BÁC HỒ TRAO TẶNG NAM BỘ DANH HIỆU “THÀNH ĐỒNG TỔ QUỐC”

Nhân dân Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến. (Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam).

     Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, niềm vui độc lập chưa được bao lâu, thực dân Pháp, được sự hậu thuẫn của quân Anh, đã dã tâm quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Chỉ sau 21 ngày nước nhà tuyên bố độc lập, vào đêm ngày 22 rạng sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp đã nổ súng tấn công các cơ quan đầu não của chính quyền cách mạng tại Sài Gòn. Hành động này là sự thách thức trắng trợn đối với nền độc lập non trẻ của Việt Nam.

     Đối diện với vận nước lâm nguy, cả Nam Bộ quyết tâm, chủ động tiến hành kháng chiến, bảo vệ giá trị thiêng liêng của độc lập, tự do, kiên quyết kìm chân địch, không để chiến tranh loang nhanh ra cả nước. Xứ ủy và Ủy ban Hành chính Nam Bộ đã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại nhà số 107 đường Cây Mai (nay là Nguyễn Trãi, Quận 5), cùng đại diện Tổng bộ Việt Minh. Hội nghị thảo luận quyết định thành lập Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, do đồng chí Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Tại đây, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ đã phát đi lời kêu gọi lịch sử: “Độc lập hay là chết”, khơi dậy tinh thần quật cường của đồng bào Nam Bộ.

     Hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, ngày 23 tháng 9 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân miền Nam đã nhất tề đứng lên, phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sự kiện này không chỉ đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ mà còn là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí quật cường quyết tâm bảo vệ độc lập trong mỗi người dân Nam Bộ với tinh thần “Thà chết tự do hơn sống nô lệ” của dân tộc Việt Nam.

     Chiều ngày 23 tháng 9 năm 1945, nhân dân Sài Gòn đã triệt để thực hiện tổng đình công, không hợp tác với thực dân Pháp. Các công sở, xí nghiệp, cửa hàng đóng cửa, chợ không họp, xe ngừng chạy, chướng ngại vật mọc lên khắp nơi. Gần 6.500 chiến sĩ các đơn vị xung phong, thanh niên tiền phong, công đoàn lập tức triển khai các vị trí, dùng gậy tầm vông, giáo mác và mọi vũ khí có trong tay để chống lại quân Pháp. Quân dân ta anh dũng chiến đấu tại các vị trí trọng yếu như Dinh Đốc Lý (trụ sở UBND Thành phố), đường Verdun, ga xe lửa, cầu Ông Lãnh, chợ Bến Thành, cầu Marc Mahon (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi). Tiêu biểu là chiến công của tiểu đội bảo vệ cột cờ Thủ Ngữ, chiến đấu đến người cuối cùng để bảo vệ lá cờ Tổ quốc, trở thành biểu tượng bất tử của tinh thần chiến đấu quật cường. Ủy ban Kháng chiến chỉ đạo các đơn vị vũ trang kìm chân quân Pháp trong thành phố, ngăn chúng mở rộng lực lượng ra ngoài. Các cơ quan Đảng, chính quyền sơ tán về vùng nông thôn để tiếp tục lãnh đạo kháng chiến. Đảng bộ các tỉnh phụ cận được huy động hỗ trợ chi viện lực lượng, vật chất cho mặt trận Sài Gòn – Chợ Lớn.

     Lực lượng kháng chiến được tập hợp ngày càng đông, khí thế chiến đấu ngày càng hăng say, quyết liệt. Lời hiệu triệu của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ đã được sự đồng lòng ủng hộ của mọi người dân, từ người già đến trẻ nhỏ; tất cả đều sẵn sàng bước vào cuộc chiến sinh tử với kẻ thù. 350 đội tự vệ được thành lập với 8.000 đội viên. Cho dù trong tay chỉ với ít ỏi vũ khí thô sơ, các chiến sĩ đã giáng cho thực dân Pháp và tay sai những đòn chí mạng. Ngay từ trận đánh đầu tiên tại Tân Định, quân và dân Nam Bộ đã tiêu diệt được 200 tên giặc. Trong một tháng, với chiến thuật “trong đánh ngoài vây”, lực lượng kháng chiến đã tiến lên giành các vị trí chiến đấu, chặn đứng hàng loạt mũi tiến công của địch, tiêu diệt hàng ngàn tên, phá hủy nhiều kho tàng hậu cần, công sở, phương tiện chiến tranh của địch, vây địch khốn đốn ở nội thành Sài Gòn. Quân giặc bị giam chân trong thành phố hàng tháng trời, không thể thực hiện được âm mưu bình định Nam Bộ trong vòng 3 tuần như toan tính. Cuộc đánh trả của quân dân Nam Bộ đã gây tổn thất nặng nề cho địch, làm chậm bước tiến của chúng và tạo điều kiện cho cả nước chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài.

     Để ủng hộ đồng bào miền Nam đánh giặc, cả nước đã chi viện tối đa sức người, sức của; ở miền Bắc và miền Trung, nhiều đoàn quân Nam tiến được thành lập, Quỹ Nam Bộ kháng chiến ra đời, nhân dân quyên góp tiền bạc, lương thực, thuốc men cho đồng bào miền Nam.

     Cuộc kháng chiến của quân và dân Nam Bộ trong những ngày đầu chống thực dân Pháp đã có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó đã ngăn chặn bước tiến xâm lược của địch, làm phá sản âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của chúng, giáng đòn đầu tiên vào ý chí xâm lược của kẻ thù. Đồng thời, cuộc kháng chiến này còn thể hiện tinh thần yêu nước quật cường, ý chí đấu tranh bất khuất, đoàn kết toàn dân để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được.

     Sự kiện Ngày Nam Bộ kháng chiến đã nhận được sự quan tâm sâu sắc và chỉ đạo kịp thời từ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 26/9/1945, Người đã gửi thư động viên, khích lệ đồng bào Nam Bộ, khẳng định quyết tâm kháng chiến của cả dân tộc: “Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của nhà đại cách mạng Pháp: “Thà chết tự do hơn sống nô lệ”.  Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà.  Tôi chắc và tất cả đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc yêu chuộng bình đẳng tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta. Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc tranh đấu của chúng ta là chính đáng” [1].  Cuối thư, Bác căn dặn đồng bào Nam Bộ: “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới, trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: Chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước” [2].

     Để ghi nhận và biểu dương tinh thần chiến đấu kiên cường của quân dân Nam Bộ, tháng 2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ tặng đồng bào Nam Bộ danh hiệu vẻ vang “Thành đồng Tổ quốc”. “Thành đồng Tổ quốc”, trước hết chính là tinh thần chủ động, sẵn sàng tiến lên phía trước, xác định và lĩnh trọng trách ngăn địch – bảo vệ Tổ quốc nơi tuyến đầu miền Nam của Xứ ủy, quân và dân Nam Bộ.

     Ngày 1/6/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào Nam Bộ. Trong thư, Bác viết: “Đồng bào Nam Bộ đã hy sinh tranh đấu mấy tháng trường, để giữ gìn non sông cho toàn nước Việt Nam. Cho nên đồng bào cả nước đều phải nhớ ơn đồng bào Nam Bộ. Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!” [3]. Trong Diễn văn khai mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, tháng 9 năm 1960, Người khẳng định: “Cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào ta ở miền Nam đang tiếp tục sâu rộng và mạnh mẽ. Miền Nam rất xứng đáng với danh hiệu vẻ vang là “Thành đồng Tổ quốc!” [4]. Danh hiệu này không chỉ là sự ghi nhận công lao to lớn của nhân dân miền Nam mà còn là lời khẳng định về vai trò tiên phong, dũng cảm của Nam Bộ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

     Tinh thần Ngày Nam Bộ kháng chiến đã trở thành một bài học lịch sử vô giá cho dân tộc Việt Nam. Bài học về ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do; bài học về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bài học về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những bài học này tiếp tục được phát huy trong suốt các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ngày nay.

     80 năm đã trôi qua, nhưng ngày Nam Bộ kháng chiến (23 tháng 9) luôn là một mốc son chói lọi trong lịch sử hào hùng của dân tộc, là minh chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân Việt Nam. Nó mãi mãi là niềm tự hào, là nguồn động viên to lớn để thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục xây dựng và bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

 

Chú thích:

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.29. [2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.29-30. [3]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.280. [4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr.671.

  

VƯƠNG NGA

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *