BÁC HỒ VIẾT DI CHÚC

Không gian Bác Hồ viết Di chúc tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. 

Từ năm 1965, khi tình hình đất nước và thế giới đang có những diễn biến phức tạp, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu bước vào giai đoạn một mất một còn, Bác Hồ bắt đầu suy nghĩ và quyết định viết sẵn một số điều dặn lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phòng khi Bác qua đời.

     Ngày đó, không ai biết việc làm này của Bác. Bác ghi vào đầu tài liệu bốn chữ: “Tuyệt đối bí mật”. Chỉ riêng đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác biết rõ việc làm này của Bác từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Đồng chí Vũ Kỳ được Trung ương và Bác chọn làm thư ký cho Bác từ cuối năm 1945 (khi Bác từ Việt Bắc về Hà Nội, ở số nhà 48 Hàng Ngang) cho đến khi Bác qua đời. Trong gần một phần tư thế kỷ giúp việc cho Bác Hồ, hầu như ngày nào đồng chí Vũ Kỳ cũng ghi nhật ký. Những sự kiện quan trọng được đồng chí ghi chính sác từng phút. Bác dặn đồng chí Vũ Kỳ, khi Bác mất thì chuyển tài liệu này cho Bộ Chính trị.

     Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày đầu tiên Bác Hồ viết Di chúc (10/5/1965 – 10/5/2025) và kỷ niệm 135 năm ngày sinh của Người, xin được tóm tắt lại quá trình Bác Hồ viết di chúc.

     Đó là vào buổi sáng thứ hai, ngày 10/5/1965, khi cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích mừng thọ Bác 75 tuổi, Bác Hồ vẫn ung dung như thường lệ.

     Đúng 9 giờ, Bác Hồ đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để dặn lại cho muôn đời con cháu mai sau [1].

     Bác chọn vào một ngày tháng Năm, nhân dịp ngày sinh của mình, chọn đúng vào lúc 9 giờ, giờ đẹp nhất của một ngày, chọn vào lúc sức khỏe tốt nhất trong những năm gần đây để viết về sự ra đi của mình: “Năm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”… Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột…” [2].

     Một giờ đã trôi qua, đúng 10 giờ, Bác gấp những tờ giấy “Tuyệt đối bí mật” lại, cẩn thận cho vào phong bì rồi để vào ngăn trên giá sách. Bác lại ung dung, thanh thản trở lại công việc hàng ngày của vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, của người hoạt động không biết mệt mỏi cho phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

     Từ ngày 10 tháng 5 đến ngày 20 tháng 5, mỗi ngày Bác dành đúng một tiếng, từ 9 giờ đến 10 giờ, để viết vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

     Sáng ngày 11/5/1965, Bác dậy sớm hơn thường lệ, đến tiễn đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Italia lên đường về nước. Sau đó, Bác trở về nhà sàn với tâm trạng rất vui. Cục tác chiến vừa điện báo cáo với Bác tin chiến thắng đêm qua ở miền Nam.

     Bác luôn theo dõi tin chiến thắng từ các nơi gửi về. Bác thường khen ngợi kịp thời các địa phương, các đơn vị và các cá nhân lập công xuất sắc… Trong thời gian này, đối với Bác Hồ, có lẽ không có niềm vui nào hơn là niềm vui nhận được tin chiến thắng từ các chiến trường, đặc biệt là từ chiến trường miền Nam.

     Đúng 9 giờ, Bác lại thong thả, ung dung lấy chiếc phong bì đựng tài liệu “Tuyệt đối bí mật” trên giá sách xuống, ngồi vào bàn, chăm chú viết. Hôm nay Bác viết về Đảng, về đoàn kết, về đạo đức cách mạng:

     “… Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc … phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

     “… Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…” [3].

    Bác đã căn dặn sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn thì “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”.

     Sáng ngày 12/5/1965, đúng 9 giờ, Bác lại ngồi viết tiếp tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Hôm nay, Bác viết về thanh niên, về quyết tâm chống Mỹ cứu nước; về kế hoạch xây dựng đất nước mai sau:

     “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”.

     Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

     … Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bảo Nam bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đa anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc…” [4].

     Sáng ngày 13/5/1965, Bác viết tiếp tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, trong phần: “Về phong trào cộng sản thế giới”, Bác Hồ đã dặn lại những lời tâm huyết:

     “Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em!

     Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.

     Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”[5].

     Sáng ngày 14/5/1965, Bác đến tại cánh đồng xã Xuân Phương, Từ Liêm thăm hỏi việc làm ăn và động viên khen ngợi bà con xã viên đang thu hoạch một vụ chiêm thắng lợi. Gần 10 giờ, Bác mới về tới nhà, kịp tham gia cuộc họp Bộ Chính trị bàn về công tác đào tạo cán bộ. Như vậy, từ 9 giờ sáng đến 10 giờ sáng ngày 14/5, Bác không viết tiếp được “lời dặn lại” như đã định.

     Buổi chiều, Bác dành gấp đôi thời gian, từ 14 giờ đến 16 giờ cho tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Bác viết tiếp mục mà Bác cho là việc riêng:

     “… Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

     Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

     Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” [6].

     Vào lúc 16 giờ ngày 14/5/1965, Bác đánh máy xong tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Tối đó, Bác giao chiếc phong bì to cho đồng chí Vũ Kỳ và dặn: “Chú cất giữ cẩn thận, sang năm, mồng 10 tháng 5 nhớ đưa lại cho Bác”.

     Nhớ lời Bác dặn, trước 9 giờ ngày 10 tháng 5 năm 1966, đồng chí Vũ Kỳ đặt sẵn chiếc phong bì tài liệu “Tuyệt đối bí mật” trên bàn làm việc của Bác, nhưng không thấy Bác viết thêm gì.

     Ngày 11/5/1966, Bác vẫn dành một tiếng từ 9 giờ đến 10 giờ để suy nghĩ về những điều dặn lại cho mai sau. Bác đọc lại bản di chúc Bác đã đánh máy năm 1965, nhưng không viết gì thêm. Có lúc Bác đã cầm bút lên rồi lại đặt xuống.

     Từ 12 đến 14 tháng 5, Bác họp Bộ Chính trị. Chính trong những ngày này, Bác đã viết thêm một câu đặc biệt quan trọng ở phần đoàn kết: “Phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”. Có lẽ đây là điều quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, trong vấn đề bảo đảm đoàn kết, và bao trùm lên tất cả là trong các mối quan hệ giữa con người với con người.

     Trong ngày 15 và 16/6/1966, Bác vẫn dành mỗi ngày một giờ, từ 9 giờ sáng đến 10 giờ sáng, chăm chú xem lại tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. chiều ngày 16 tháng 5, Bác trao “tài liệu” cho đồng chí Vũ Kỳ cất giữ và nói “Chú chuẩn bị ngày mai đi công tác sớm”. Ngày 17/5/1966, Bác di công tác Bắc Kinh. Năm nay, kỷ niệm ngày sinh nhật Bác trên đất nước Trung Hoa.

     Năm 1967, do tình hình sức khỏe không được tốt, Bác phải dành khá nhiều thời gian cho việc chữa bệnh, đúng ngày 10/5, Bác đang ở xa nên không viết được những lời dặn dò vào đó.

     Sáng ngày 10/5/1968, Bác dặn đồng chí Vũ Kỳ: “Chú Kỳ! Nhớ chuẩn bị tài liệu cho Bác nhé”.

     Và đúng 9 giờ, Bác lại ngồi vào bàn tiếp tục để lại những lời dặn dò cho muôn đời sau:

    “Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây”…

     Năm nay, Bác viết kỹ hơn về việc riêng:

     “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân. Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hoả táng”… Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam…” [7].

     9 giờ ngày 11/5/1968, Bác lại ngồi vào bàn trước bản Di chúc đang viết dở. Có thể nói, bản tài liệu đã được hoàn thành từ năm 1965, nhưng cứ còn thời gian là Bác còn sửa chữa, thêm bớt. Điều đó thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Bác trước sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

     7 giờ sáng ngày 10/5/1969, Bác đến dự Hội nghị Trung ương họp ở Tây Hồ. Đến 9 giờ nghỉ giải lao Bác xin phép ra về. Về đến nhà sàn đã hơn 9 giờ. Bác lại ngồi vào bàn viết, sửa chữa tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Hôm nay, Bác viết lại toàn bộ phần mở đầu:

     “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn. Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta…” [8].

     Vậy là đến ngày 10/5/1969, hầu như Bác đã viết xong tài liệu “Tuyệt đối bí mật” bắt đầu từ ngày 10/5/1965. Trừ phần cuối vẫn giữ nguyên như năm 1965, còn phần đầu, phần giữa đều được Bác thêm bớt, sửa chữa qua 4 năm suy ngẫm.

     Từ ngày 11 đến ngày 18/5/1969, Bác vẫn dành thời gian đọc, suy ngẫm và sửa chữa, viết thêm một số chữ.

     Đúng 9 giờ ngày 19/5/1969, nhân dịp sinh nhật lần thứ 79, Bác vẫn ngồi vào bàn làm việc với bản tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Bác đọc lại lần cuối bản thảo Di chúc, xếp vào phong bì và cất đi.

     Tháng 9/1969, Di chúc được công bố lần đầu trong Lễ tang của Người, nội dung chủ yếu dựa theo bản Di chúc năm 1965. Năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhật Bác, Bộ Chính trị đã quyết định công bố toàn văn các bản Di chúc. Di chúc là tâm nguyện, ý chí, niềm tin, tình cảm và trách nhiệm của Bác với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, với sự nghiệp cách mạng và tương lai Tổ quốc.

     60 năm đã tôi qua, kể từ ngày đầu tiên Bác đặt bút viết Di chúc (10/5/1965 – 10/5/2025) và 56 năm Bác đi xa nhưng những lời căn dặn ân cần của Bác trong Di chúc mãi là ngọn đuốc soi đường cho con thuyền Cách mạng Việt Nam cập bến vinh quang trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

     56 năm qua, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ra sức đoàn kết, nỗ lực phấn đấu thực hiện bản Di chúc bất hủ của Bác. Với niềm thành kính sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và cả trách nhiệm của một vùng đất cách mạng đối với Tổ quốc, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vẫn đang nỗ lực thực hiện di huấn thiêng liêng của Người để xây dựng tỉnh nhà ngày càng phát triển. Nghệ An đang vươn lên trở thành trung tâm kinh tế-xã hội vùng Bắc Trung bộ, sớm trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc và cả nước như Bác Hồ hằng mong muốn.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Hồi ký Vũ Kỳ: Bác Hồ viết Di chúc, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 2012. [2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.611. [3, 4, 5, 6, 7, 8]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.611 – 624.

Toàn văn các bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1965, 1968, 1969. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh).

VƯƠNG NGA

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *