CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

     Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người sáng lập và lãnh đạo Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn là hiện thân sinh động của tư tưởng dân chủ trong thực tiễn. Một trong những hình ảnh có sức lan tỏa sâu rộng là việc Bác Hồ trực tiếp đi bầu cử trong các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Hành động giản dị nhưng mang ý nghĩa chính trị, pháp lý sâu sắc này đã trở thành minh chứng tiêu biểu cho quan điểm nhất quán của Người: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phải được thực thi thông qua các thiết chế dân chủ cụ thể.

    Việc nghiên cứu hình ảnh Bác Hồ đi bầu cử không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn mang giá trị lý luận và thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là nội dung góp phần làm sáng tỏ phong cách lãnh đạo nêu gương, trọng dân, vì dân của Hồ Chí Minh.

     Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Để giữ vững và xây dựng được chính quyền cách mạng ngày càng vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương cần phải tìm người hiền tài để giúp dân, cứu nước. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, tức một ngày sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu…” [1].

     Để chuẩn bị tổ chức bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong vòng 2 tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký 4 Sắc lệnh: Ngày 8/9/1945, Người ký Sắc lệnh số 14 quyết định tổ chức Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước. Bản Sắc lệnh đã nhấn mạnh yêu cầu bức thiết của Tổng tuyển cử, đồng thời chỉ rõ chúng ta có đủ cơ sở pháp lý, điều kiện khách quan và chủ quan để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đó; và quy định: “Trong một thời hạn hai tháng kể từ ngày ký Sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu quốc dân đại hội. Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, một Ủy ban dự thảo Hiến pháp bảy người sẽ được thành lập” [2]. Tiếp đó, ngày 20/9/1945, Người ký Sắc lệnh số 34 thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp, gồm 7 thành viên. Ngày 26/9/1945, Người ký Sắc lệnh số 39 về việc thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử gồm 9 người, trong đó có đại diện của các ngành, các giới. Ngày 17/10/1945, Người ký Sắc lệnh số 51 quy định thể lệ Tổng tuyển cử và ấn định ngày 23/12/1945 sẽ tiến hành Tổng tuyển cử trong toàn quốc.

     Trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 16/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu vấn đề dân chủ bầu cử và ứng cử, đề nghị Chính phủ ra thông báo nói rõ ai cũng có quyền ứng cử, dù ở đảng phái hay không đảng phái. Ngày 23/12/1945, Người ký Sắc lệnh số 76/SL hoãn cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I đến ngày 6/1/1946 và kéo dài hạn nộp đơn ứng cử đến hết ngày 27/12/1945.

     Với niềm tin vào Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã một lòng ủng hộ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc. Nhiều người có tài, có đức đã tự ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Danh sách các cử tri và ứng cử viên được niêm yết công khai. Tại các địa phương, nhân dân ta nô nức kéo về trụ sở chính quyền các tỉnh thành, huyện lỵ mít tinh hoan nghênh Tổng tuyển cử và ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội, các Chủ tịch Ủy ban Nhân dân và đại biểu các làng xã đã công bố một bản kiến nghị “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Trước tình cảm yêu mến đó, ngày 15/12/1945, Người đã viết thư cảm ơn nhân dân ngoại thành Hà Nội: “Tôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ứng cử ở thành phố Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa. Tôi xin thành thực cảm tạ toàn thể đồng bào…” [3]. Không chỉ ở các tỉnh thành mà ở cả các bản làng xa xôi hẻo lánh cũng tràn ngập không khí, tưng bừng, rộn ràng tiếng cồng chiêng cổ động cho Tổng tuyển cử. Đến cả kiều bào xa xứ ở các nước như Pháp, Thái Lan, Lào… cũng tổ chức mít tinh, hội họp, gửi điện tín, ủng hộ Tổng tuyển cử. Có thể nói, cả dân tộc như hừng hực khí thế và sức sống trước ngày hội của non sông.

    Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của đất nước đã được Chính phủ chuẩn bị một cách khẩn trương và chu đáo. Một tuần trước ngày bầu cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Ý nghĩa Tổng tuyển cử đăng báo Cứu quốc (số 130, ngày 31/12/1945). Trong bài viết, Người chỉ rõ: “Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết. Do Tổng tuyển củ mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân…” [4].

     Ngày 3/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp của Chính phủ Liên hiệp lâm thời để kiểm tra lần cuối công việc chuẩn bị. Trước ngày bầu cử (ngày 5/1/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ hơn hai vạn nhân dân Thủ đô trong cuộc mít tinh tại Việt Nam Học xá (nay là khu vực Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội). Thay mặt các ứng cử viên, Bác nói: “Từ trước đến nay, toàn quốc chưa bao giờ tuyển cử vì xưa dân chưa bao giờ làm chủ mình, xưa dân phải nghe lời vua quan, sau phải nghe thực dân Pháp, Nhật. Vừa rồi đây ta vừa tranh được độc lập… Ta đã phải hy sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó… Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu…” [5].

     Cũng trong ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, đăng báo Cứu quốc (số 134, ngày 5/1/1946): “Ngày mai mồng 6 tháng giêng năm 1946… là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử… là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình… dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước… Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do” [6]. Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh như lời hiệu triệu động viên toàn dân nô nức, phấn khởi, thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình để bầu chọn những đại biểu có đủ tài, đức; xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân tại các cơ quan quyền lực nhà nước; góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…

(Ảnh: Hàng vạn nhân dân Hà Nội đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội. Hà Nội, ngày 5/1/1946. Nguồn: Bảo  tàng Hồ Chí Minh).

     Ngày 6/1/1946, ngay từ 6 giờ sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi làm nghĩa vụ công dân của mình ở thùng phiếu đặt tại nhà số 10 phố Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ), Hà Nội, thay mặt cả nước nhận lá phiếu đầu tiên của người công dân số 1. Sau đó, Người đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê… Buổi trưa, Người ghé thăm các cháu thiếu nhi đang đi cổ động cho Tổng tuyển cử ở phố Lò Đúc. Với lòng yêu nước của nhân dân, với sự chuẩn bị chu đáo, cuộc Tổng tuyển cử 1946 đã thành công rực rỡ. Đại bộ phận cử tri đã hăng hái và sáng suốt thực hiện quyền công dân của mình. Quốc hội khóa I gồm 403 đại biểu. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử đại biểu Quốc hội với sự tín nhiệm cao nhất, chiếm 98,4% số phiếu bầu. Kết quả này là một bằng chứng về khát vọng độc lập, tự do của dân tộc ta và uy tín tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn thể nhân dân Việt Nam.

     Để ứng phó kịp thời với tình hình mới, ngay sau thắng lợi của Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương triệu tập cuộc họp Quốc hội. Ngày 2/3/1946, Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I đã diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, với gần 300 đại biểu Quốc hội của cả nước về dự. Tại kỳ họp này, Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh được tín nhiệm bầu vào vị trí Chủ tịch Chính phủ kháng chiến, Người phát biểu: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận” [7]. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta không những đã trở thành một quốc gia độc lập mà còn có cơ quan nhà nước có đầy đủ cơ sở và tư cách pháp lý đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

     Trong những năm kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 136/SL ngày 29/11/1949 ấn định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân thị xã và thành phố. Đến năm 1957, Người ký Sắc lệnh số 107-SL/19 ngày 14/10/1957 quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính các cấp.

     Do điều kiện chiến tranh, đất nước bị chia cắt, nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khóa I kéo dài từ tháng 1/1946 đến tháng 5/1960 với 12 kỳ họp. Quốc hội khóa I đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ; giải phóng và đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; chi viện cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước. Ngày 15/4/1960, tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 12 Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu: “Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam châu Á, cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do” [8]. Đồng thời, Người chỉ rõ những cống hiến của Quốc hội khóa I suốt 14 năm và khẳng định: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân vì nước, đã làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu của nhân dân” [9].

     Ngày 24/4/1960, phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên tính chất dân chủ của Luật bầu cử so với các nước tư bản khác. Người nói về tầm quan trọng của Lá phiếu cử tri: “Lá phiếu cử tri có một giá trị rất cao quý; nó là một dấu hiệu xác nhận rằng nhân dân thật sự làm chủ nước nhà. Nhân dân ta đã đấu tranh lâu dài và anh dũng, đã hy sinh biết bao xương máu trong cách mạng và trong kháng chiến mới giành được và giữ được quyền dùng lá phiếu ấy. Vì vậy, đối với lợi ích chung của Tổ quốc cũng như đối với lợi ích riêng của mỗi người, đồng bào cử tri phải làm tròn nhiệm vụ của mình, tức là phải nhắc nhủ nhau hăng hái đi bỏ phiếu ngày tổng tuyển cử” [10]. Người tin tưởng rằng những cử tri sáng suốt sẽ bầu ra được một Quốc hội có những đại biểu thật xứng đáng. Thay mặt các ứng cử viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh hứa với đồng bào: “Những người được cử vào Quốc hội khoá II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội” [11].

     Ngày 8/5/1960, cử tri trên toàn miền Bắc đi bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa II. Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử tại khu Ba Đình, Hà Nội. Đúng 7 giờ sáng ngày 8/5/1960, Người có mặt tại phòng bỏ phiếu điểm bỏ phiếu số 1, nhà số 67 phố Cửa Bắc. Bác ân càn thăm hỏi mọi người, khen Ban Bầu cử tổ chức chu đáo và mời cử tri cao tuổi nhất có mặt lúc đó bỏ lá phiếu đầu tiên, rồi mới đến mình. Sau đó, Bác kiểm tra một số điểm bỏ phiếu ở xã Nhật Tân và nhắc nhở phải đảm bảo các nguyên tắc dân chủ, bí mật, hoàn thành đúng thời gian, an toàn. Kết quả bầu cử quốc hội khóa II có 362 người túng cử, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là người trúng cử với số phiếu cao nhất.

     Trong nhiệm kỳ hoạt động của mình, Quốc hội khóa II đã phát huy vai trò quan trọng của mình trong việc động viên sức người, sức của để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bác và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

     Ngày 14/4/1964, nói chuyện với đại biểu nhân dân Thủ đô trong cuộc ra mắt của các vị ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa III, ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó thì vô cùng to lớn” [12].

     Ngày 26/4/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu đại biểu Quốc hội khóa III tại phòng bỏ phiếu A24 đặt ở Hội trường Bộ Nông nghiệp, cạnh vườn Bách thảo, phố Ngọc Hà, Hà Nội. Làm xong nghĩa vụ và quyền lợi công dân, Bác đi thăm một số khu vực bỏ phiếu ở Hà Nội như: Khu vực C29, khu phố Đống Đa, xã Xuân La và Nhật Tân (huyện Từ Liêm).

     Do hoàn cảnh chiến tranh, nhiệm kỳ Quốc hội khóa III kéo dài 7 năm và có 7 kỳ họp; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp 95 lần, thông qua nhiều nghị quyết về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối ngoại và tổ chức hành chính, nhân sự.

     Chiều ngày 27/4/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và khu phố Ba Đình. Bác bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, Tiểu khu 1, khu phố Ba Đình, Hà Nội đặt tại Nhà thuyền (Hồ Tây). Sự tôn trọng, dân chủ, nghiêm túc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc làm rất nhỏ của công tác bầu cử. Bác đến sau nên đã gương mẫu chờ đến lượt mình mới vào phòng viết phiếu và bầu cử. Khi thực hiện nghĩa vụ, Bác yêu cầu đưa lý lịch của những người ứng cử để người cân nhắc lựa chọn. Các đồng chí quay phim muốn ghi lại hình ảnh Bác lúc viết phiếu bầu liền bám theo Bác vào phòng viết phiếu số 3. Bác cười, xua tay: “Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri, không ai được vào xem”! Viết xong, Bác cẩn thận xem lại, rồi gấp tờ phiếu làm tư, ra nơi đặt thùng phiếu và bỏ phiếu vào thùng [13].

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội, ngày 27/4/1969.

     Trong 15 năm sống và làm việc tại Hà Nội (01/01/1955 – 02/9/1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 8 lần trực tiếp tham gia bầu cử với tư cách là cử tri; trong đó, có 3 lần bầu đại biểu Quốc hội, các lần còn lại Người bỏ phiếu bầu đại biểu Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội và Hội đồng Nhân dân khu phố Ba Đình.

     Suốt 24 năm giữ cương vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa I (năm 1946) cho đến khi từ trần năm 1969, khi Người đang là đại biểu Quốc hội khóa III. Không chỉ là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, người sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đặt nền móng cho pháp chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là tấm gương mẫu mực trong việc tôn trọng, thực thi đầy đủ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của một công dân. Với tinh thần nêu gương đó, Người luôn trực tiếp tham gia bỏ phiếu tại các kỳ Tổng tuyển cử, thể hiện sâu sắc tư tưởng đề cao quyền làm chủ của nhân dân.

     Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên (06/01/1946 – 06/01/2026), hướng tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 – 2031, việc nhìn lại những dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các kỳ bầu cử càng làm sâu sắc thêm nhận thức về tư tưởng của Người đối với vai trò của Quốc hội và trách nhiệm của đại biểu nhân dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Qua đó, khẳng định bầu cử là phương thức quan trọng để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

 

Chú thích:

[1, 3, 4, 5, 6, 7]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.7, tr.136, tr.153, tr.168, tr.166,167, tr.187 [2]. Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tập 3, tr.7,8 [8, 9, 10, 11]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 12, tr.548, tr.550, tr.565, tr.567 [12]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 14, tr.298 [13]. Ban chấp hành Đảng bộ  Đảng Cộng sản Việt Nam quận Ba Đình: Bác Hồ với Ba Đình, Nhà máy in Tiến bộ, Hà Nội, 1986, tr77-78.

 

 

                                                                     VƯƠNG NGA

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *