HÀNH HƯƠNG VỀ ĐỀN HÙNG, NHÀ TÙ SƠN LA VÀ ĐIỆN BIÊN PHỦ

Hòa chung không khí cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hướng tới Lễ kỷ niệm 49 năm giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2024) và 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” (7/5/1954 – 7/5/2024), 134 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2024), Đoàn công tác Khu di tích Quốc gia đặc biệt Kim Liên cùng Ban quản lý Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ tại thành phố Vinh (Nghệ An) đã có dịp hành hương về các địa chỉ đỏ: Đền Hùng (Phú Thọ), Nhà tù Sơn La (tỉnh Sơn La) và Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên).
Điểm đầu tiên Đoàn chúng tôi đặt chân đến là đất Tổ Hùng Vương.

Ảnh: Bác Hồ nói chuyện với Đại đoàn Quân Tiên Phong 308, ngày 19 tháng 9 năm 1954.
 (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Trước khi vào tiếp quản Thủ đô, sáng 19-9-1954, Đại đoàn 308 vinh dự được Bác Hồ trực tiếp giao nhiệm vụ. Đây là một cuộc gặp gỡ đặc biệt, vào một thời điểm đặc biệt, bởi lúc này cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa thắng lợi; cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới; nơi gặp là một địa linh: Đó là Đền Hùng, biểu tượng của cội nguồn dân tộc.
Tại bậc cửa thềm Đền Giếng (Đền Hùng – Phú Thọ), Bác căn dặn cán bộ, chiến sĩ vào tiếp quản Thủ đô phải giữ nghiêm kỷ luật, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, chống mọi hành động phá hoại của kẻ thù. Phải bảo vệ công thương nghiệp, kể cả công thương nghiệp của ngoại kiều. Bộ đội phải giúp đỡ nhân dân, tuyên truyền giải thích cho nhân dân, không được làm điều gì phiền nhiễu nhân dân, sao cho từ cụ già đến em bé đều quý mến, tin tưởng. Giữ gìn phẩm chất bộ đội cách mạng. Không sa ngã, bắt chước lối sống không tốt. Cán bộ phải gương mẫu, gần gũi chiến sĩ, đoàn kết thương yêu nhau.
Bác nói về tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Bác nhắc nhở quân đội không vì hòa bình mà lơi lỏng tay súng. Còn đế quốc ở miền Nam ta còn phải xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc còn rất nặng nề. Chính tại nơi đây, Bác Hồ đã có câu nói bất hủ để lại cho muôn đời con cháu mai sau: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” [1].
Lời nói ấy của Bác trở thành một lời hịch thiêng liêng của non sông đất nước, âm vang trong tâm hồn mỗi người con đất Việt ở khắp mọi miền, với mọi thế hệ. Lời căn dặn của Bác không chỉ nói với Đại đoàn 308 mà còn nói với toàn quân, toàn dân, không chỉ nói với thế hệ ngày ấy, thế hệ hôm nay mà còn nói với các thế hệ mai sau. Không chỉ mang giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống, lời nói ấy còn có nội hàm là một quy luật. Chỉ vẻn vẹn hai câu mà khái quát cả mấy nghìn năm lịch sử, rút ra quy luật tồn tại và phát triển muôn đời của đất nước và con người Việt Nam: “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước”.
Chính bởi ý nghĩa sâu xa của Di tích Đền Hùng, nhân dịp giỗ Tổ Hùng Vương năm 2024, Đoàn chúng tôi đã hành hương về đây. Trước anh linh các Vua Hùng, Lãnh đạo hai đơn vị cùng các đồng chí trong đoàn tỏ lòng thành kính, tri ân sâu sắc trước công lao to lớn của các Vua Hùng đã có công dựng nước.

Ảnh: Đoàn công tác thắp hương tri ân các vị Vua Hùng tại Đền Giếng.

Ảnh: Đoàn công tác chụp ảnh lưu niệm tại Đền Giếng (Đền Hùng, Phú Thọ) – nơi Bác Hồ nói chuyện với Đại đoàn Quân Tiên Phong 308,
ngày 19-9-1954.

Trong chuyến công tác, Đoàn chúng tôi đến thăm Di tích Nhà tù Sơn La đúng dịp kỷ niệm 80 năm Ngày mất của đồng chí Tô Hiệu – một chiến sĩ tiên phong, người Cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng ta hy sinh tại nhà tù này.
Đồng chí Tô Hiệu (1912-1944), suốt trong những năm tháng tham gia đấu tranh cách mạng, đồng chí Tô Hiệu luôn thể hiện là một người chiến sỹ cộng sản mẫu mực, kiên trung, bất khuất. Nhiều lần bị bắt, bị giam tù, dù bị tra tấn dã man đồng chí vẫn không hề tiết lộ tài liệu, cơ sở cách mạng. Trong phiên tòa xét xử Tô Hiệu và các đồng chí của mình, khi bị luận tội, dù thân thể tàn tạ do bệnh tật và đòn roi quân thù, đồng chí vẫn hiên ngang, dõng dạc tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai, khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc là con đường đúng đắn. Ý chí kiên cường và tinh thần kiên định của Tô Hiệu đã khiến quân thù phải khiếp sợ.
Đối mặt với lao tù và bệnh tật, nhà cách mạng Tô Hiệu càng thể hiện rõ khí phách, tinh thần, thái độ lạc quan cách mạng, khẳng định tinh thần đấu tranh không nao núng, không mệt mỏi, là người truyền lửa nhiệt huyết và niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự nghiệp cách mạng của Đảng cho đồng đội và quần chúng nhân dân. Trong địa ngục trần gian của chốn lao tù đế quốc, biết mình sẽ phải hy sinh, đồng chí càng hăng say viết tài liệu, viết báo, tuyên truyền, vẫn luôn động viên đồng chí, đồng đội của mình tin tưởng vào tương lai của cách mạng, tương lai của đất nước. Tuy bị bệnh nặng, nhưng đồng chí vẫn cần mẫn học hành, trau dồi tri thức và kinh nghiệm hoạt động cách mạng. Giống như tinh thần của người cộng sản Tô Hiệu, tại Nhà tù Sơn La đến nay vẫn còn lưu giữ một cây đào mọc bên tường xà lim năm xưa, mang tên Tô Hiệu.

Ảnh: Nhà cách mạng Tô Hiệu và cây đào liệt sĩ đã trồng tại Nhà tù Sơn La. (Ảnh tư liệu).  

Nhà tù Sơn La do thực dân Pháp xây dựng ở nước ta vào những năm đầu của thế kỷ 20. Khởi thủy nó chỉ là Nhà tù hàng tỉnh với chức năng là giam giữ từ thường phạm. Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo nhân dân ta vùng lên đấu tranh chống đế quốc, phong kiến thì Nhà tù Sơn La thay đổi hẳn tính chất. Đối tượng giam giữ không chỉ là tù thường phạm mà cả tù chính trị thuộc các đảng phái, trong đó chủ yếu là tù Cộng sản. Nhà tù Sơn La trở thành trung tâm giam cầm, đày ải những người yêu nước Việt Nam.
Năm 1930 chỉ có 24 người tù Cộng sản từ nhà giam Hỏa Lò bị “phát vãng” lên Sơn La. Tháng 12 năm 1944, Nhà tù Sơn La có 1007 tù nhân. Sơn La là một tỉnh miền núi cách xa Hà Nội. Chỉ có một con đường độc đạo là con đường số 41 (nay là đường Quốc lộ 6) trình độ dân trí còn thấp và thủa đó là một trong những vùng nổi tiếng “Nước độc rừng thiêng”. Không thể chém giết cùng một lúc hàng loạt những người dân Việt Nam yêu nước, nên thực dân Pháp đã thực hiện âm mưu hết sức thâm độc là lợi dụng khí hậu khắc nghiệt, kết hợp với chế độ ăn uống kham khổ, chế độ lao tù hà khắc, lao động khổ sai cực nhọc…  để giết dần, giết mòn cả thể xác lẫn tinh thần của người tù chính trị, điều đó đã thể hiện đầy đủ trong các các báo cáo của Công Sứ Sơn La Xanh – Pu – Lốp gửi Thống sứ Bắc kỳ: “Chỉ cần một thời gian không lâu, sốt rét, bệnh tật và công việc khổ sai sẽ tiêu hao chúng một cách êm thấm…”.
Tàn nhẫn hơn chúng dùng chế độ vật chất để mua chuộc biến những người lạc hậu thành hàng rào bao vây nhà tù, ngăn cách những người tù chính trị với đông đảo quần chúng nhân dân và lợi dụng sự khác nhau về phong tục tập quán, về ngôn ngữ để ngăn cản tuyên truyền cách mạng của các tù chính trị.
Tuy vậy, ngay từ lúc đặt chân tới Nhà tù Sơn La, những người tù Cộng sản đã ý thức được những khó khăn, nguy hiểm và sớm tìm được cho mình những phương thức hoạt động thích hợp để sống, để tiếp xúc với dân, gây dựng cơ sở cách mạng, để đấu tranh trực tiếp với kẻ thù, rèn luyện và chuẩn bị chu đáo hành trang cần thiết khi có điều kiện trở về với Đảng với tổ chức. Cũng ở nơi đây đã đào tạo cho cách mạng, cho Đảng nhiều cán bộ lãnh đạo xuất sắc như vậy: đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Đặng Việt Châu, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Trân… Đặc biệt, đồng chí Tô Hiệu được xem là cánh chim đầu đàn trong phong trào cách mạng tại Nhà tù Sơn La.
Đến với Nhà tù Sơn La, tận mắt quan sát những chứng tích còn sót lại và nghe hướng dẫn viên giới thiệu về những tội ác của thực dân Pháp cũng như tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường của các chiến sĩ Cộng sản tại Nhà tù Sơn La, chúng tôi ai cũng rưng rưng, xúc động. Trước bàn thờ đơn sơ của đồng chí Tô Hiệu, Đoàn chúng tôi thắp nén tâm hương bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với sự hi sinh cao cả của đồng chí cũng như của các bậc tiền nhân đã hy sinh vì nền độc lập tự do cho Tổ quốc.

Ảnh: Đồng chí Nguyễn Bảo Tuấn – Giám đốc khu di tích Kim Liên cùng Đoàn công tác thắp hương trước Ban thờ đồng chí Tô Hiệu.

Ảnh: Đoàn công tác chụp ảnh lưu niệm trước cây đào Tô Hiệu.


Ảnh: Đoàn chụp hình lưu niệm trước Bảo tàng tỉnh Sơn La.

Hòa chung với không khí “cả nước hướng về Điện Biên”, điểm đến cuối cùng của Đoàn chúng tôi là Điện Biên Phủ – Nơi làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm 1954. Chiến thắng Điện Biên Phủ “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa của thế kỷ 20” [2]. Chiến thắng này là kết quả tất yếu của tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, trí thông minh, lòng dũng cảm cũng như sự nỗ lực phi thường, bất khuất của quân và dân ta, đặc biệt là sự chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Với tất cả tấm lòng thành kính, biết ơn, Đoàn chúng tôi đã kính cẩn dâng hương, tri ân các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh ở chiến trường Điện Biên Phủ.


Ảnh: Đoàn làm lễ thắp hương tại đền thờ liệt sĩ hy sinh ở chiến trường Điện Biên Phủ.

      Đoàn cũng đã đi thăm các di tích lịch sử gắn với Chiến thắng Điện Biên Phủ như: thăm Đồi A1 – nằm ở vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, được coi là “cuống họng” bảo vệ phân khu trung tâm, trực tiếp bảo vệ căn hầm của tướng De Catries. Trận tiến công cứ điểm trên Đồi A1 là một trong những trận đánh oanh liệt nhất của quân và dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Tại đây, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ của ta đã anh dũng hy sinh. Cuối cùng quân ta đã làm chủ hoàn toàn cứ điểm A1 vào 4h sáng ngày 7/5/1954, mở toang cánh cửa thép, tiến thẳng vào trung tâm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Đến với cứ điểm A1, qua những chứng tích lịch sử còn lại của chiến tranh như: đường hầm, chiếc xe tăng, hố bộc phá… chúng tôi phần nào thấu hiểu được sự vất vả, gian khổ cũng như tinh thần anh dũng, quả cảm của các chiến sĩ Điện Biên Phủ để có được độc lập, tự do như ngày hôm nay.

Ảnh: Trước cứ điểm Đồi A1

Đoàn chúng tôi đến thăm hầm Tướng De Castries – nơi từng đặt Trung tâm của Bộ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là nơi lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng các đơn vị tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ do Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật phất cao trên nóc hầm, đánh dấu sự thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ và Việt Nam, kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống Thực dân Pháp của quân và dân ta…

Ảnh: Trước hầm chỉ huy của tướng De Castries.
Đặc biệt, tại Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đoàn chúng tôi được tận mắt chiêm ngưỡng bức tranh Panorama rộng hơn 3.000m2. Đây là bức tranh tròn lớn nhất Đông Nam Á, tái hiện 4.500 nhân vật, giữa chiến trận kéo dài: “Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” của quân và dân ta để làm nên chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Ảnh: Trước khung cảnh hào hùng về chiến thắng Điện Biên Phủ với những hình ảnh thể hiện sự đối lập giữa từng đoàn tù binh phía bên kia và
hình ảnh từng đoàn quân của ta vùng lên, với điểm nhấn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries.

Rời Điện Biên Phủ, kết thúc chuyến hành trình 3 ngày thật ý nghĩa, Đoàn chúng tôi ai cũng hân hoan, xúc động, tự hào và nguyện hứa sẽ luôn cố gắng học tập, công tác tốt, góp phần bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh để xứng đáng với công dựng nước của các Vua Hùng và sự hy sinh của các thế hệ cha anh vì độc lập, tự do của Tổ quốc./.

Chú giải:
[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 9, tr.59.
[2]. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, H.1970, tr.50.
 

Vương Nga – Trần Hà

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *