Bác Hồ sinh ra và lớn lên tại quê hương Nam Đàn, Nghệ An. Mười sáu tuổi, Người rời xa quê và bôn ba tìm đường cứu. Khi đã là Chủ tịch nước, dù bận trăm công nghìn việc nhưng trong sâu thẳm trái tim Bác, Nghệ An luôn giữ một vị trí đặc biệt. Người đã có 9 bài báo, 31 bức thư, 10 bài nói chuyện, 3 bức điện, 2 lần về thăm, 1 lời đề tựa cho quê hương. Khi thì Bác “lấy danh nghĩa một người đồng chí già” để san sẻ kinh nghiệm, lúc thì lấy danh nghĩa Chủ tịch nước để gặp gỡ thăm hỏi, gửi thư động viên, căn dặn, khi là một người con quê hương xa cách lâu ngày về thăm. Dù ở cương vị nào và ở đâu, bà con tỉnh nhà đều cảm nhận được trái tim yêu thương nồng hậu, phong cách gần gũi, nếp sống giản dị, tiết kiệm của Bác. Nhân dịp chào mừng, kỷ niệm 68 năm ngày Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ nhất (13/06-16/06/1957) chúng ta cùng nhau ôn lại giây phút thiêng liêng xúc động và những tình cảm, lời căn dặn ân cần sâu sắc của Bác.
Năm 1957, trước khi đi thăm quê hương giai cấp vô sản, lao động các nước anh em, Bác muốn đi thăm các tỉnh khu IV và quê hương trước. Ngày 12/06/1957, đồng chí Nguyễn Trương Khoát, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An nhận được điện của đồng chí Ngô Thuyền – Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa vào tối ngày 13/6, Bác sẽ vào thăm Nghệ An. Vô cùng vui mừng, phấn khởi, đồng chí Nguyễn Trương Khoát ngay lập tức tổ chức cuộc họp Thường vụ Tỉnh ủy và giao cho hai văn phòng Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh chuẩn bị chu đáo để đón đoàn khách đặc biệt của Trung ương về công tác tại Nghệ An. Bác vào đến Vinh lúc 11 giờ khuya, bấy giờ cơ quan Tỉnh ủy đóng ở trong Thành cổ Vinh. Cùng đi với Bác có đồng chí Nguyễn Chí Thanh (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Liên khu ủy IV, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam), đồng chí Trần Quốc Hoàn (Bộ trưởng Bộ Công an). Tỉnh ủy Nghệ An đã chọn ngôi nhà ngói ba gian, tường toóc-xi, ve xanh trong cơ quan Tỉnh ủy để làm nhà khách đón Bác nghỉ ngơi. Bên trong chuẩn bị đồ dùng gọn gàng, tươm tất: một chiếc giường đơn, chiếc chiếu gọn và tấm vải trắng làm ga, trên giá thau có một chiếc khăn rửa mặt mới. Tranh thủ lúc mọi người uống nước, trò chuyện hỏi thăm nhau, một đồng chí cán bộ Tỉnh ủy và đồng chí Soàn (giúp việc cho Bác) đi kiểm tra lại phòng ngủ. Chuyện trò một lát, mọi người ra về để Bác nghỉ vì cũng đã gần 12 giờ đêm. Bác bước vào phòng nghỉ, nhìn bao quát rồi nhẹ nhàng hỏi: “Giường đã trải chiếu rồi, lại còn trải tấm vải trắng?”. Đồng chí Khoát vội đáp: “Thưa Bác, có lẽ nan giường thưa, anh em rải thêm tấm vải thường này để Bác nằm đỡ đau lưng thôi ạ!”. Bác vừa gấp tấm vải vừa nói: “Thôi để Bác nằm chiếu là đủ rồi, êm ái chán, vả lại đêm nay trời nóng…”. Bác quay sang hỏi đồng chí Soàn giúp việc: “Chú có mang theo khăn mặt, khăn tắm đấy chứ?”. Đồng chí Soàn trả lời: “Dạ, có ạ!”. Bác tự tay gấp chiếc khăn bông mới trên giá, thay vào đó một chiếc khăn khác, cũng còn trắng nhưng sợi đã thưa và có một đường khâu nối ở giữa. Thấy mọi người băn khoăn, Bác liền giải thích: “Khăn Bác còn dùng được, lấy khăn mới chỉ dùng qua vài lần rồi bỏ, nó phí đi. Thật ra thì giường Bác nằm, đồ Bác dùng chưa bằng một người nông dân bậc trung ở Tiệp Khắc, nhưng họ khác, mình khác. Các chú đừng ngần ngại, ở Hà Nội Bác cũng thế này thôi!”. Đồng chí Soàn tiếp lời Bác như để phân trần: Khăn của Bác đã cũ và mòn đi như thế này. Có lần anh em đem thay bằng một tấm khăn mới, Bác liền gọi tôi lại và hỏi: “Khăn của Bác đâu?”. Tôi thưa: “Dạ! Từ đây xin Bác dùng chiếc khăn mới này”. Nhưng Bác lắc đầu bảo: “Khăn kia vẫn còn dùng được, tội gì mà phải thay?”. Đồng chí Soàn lại đưa những ngón tay chỉ vào những mũi kim: “Đây là đường khâu do chính tay Bác làm”. Giản dị, tiết kiệm, giảm bớt đến mức không còn giảm thêm được nữa việc chi tiêu cho bản thân để tăng thêm sự đầy đủ cho người khác là một trong những nguồn vui lớn của Bác. Điều đó đã khiến ai ai cũng cảm động, rơi nước mắt.
Sáng ngày 14/6/1957, theo giờ đã định, đồng chí Hoàng Văn Diệm, Phó Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Khu báo cáo trước Bác một số nét về tình hình công tác trong mấy năm qua của Liên khu. Bác chăm chú lắng nghe và góp ý kiến vào từng điểm, từng phần thật cụ thể. Đến 8 giờ sáng, Bác gặp các đại biểu Mặt trận Tổ quốc Liên khu và lãnh đạo các đoàn thể. 9 giờ Bác làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, cán bộ Ủy ban Hành chính tỉnh. Cũng trong dịp này, Bác đã về thăm Kim Liên. Bác vào nhà thờ họ Nguyễn Sinh thắp nén hương thơm tưởng nhớ tổ tiên. Thuở thiếu thời, những ngày giỗ, tết, ngày rằm, Bác vẫn thường theo cha đến kính viếng tổ tiên tại nhà thờ. Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, bản sắc văn hóa quê hương đã thấm đượm sâu sắc trong tâm hồn Người. Bác nói chuyện với bà con trong dòng họ: “Công việc bận, Bác không về thăm được các gia đình trong họ. Bác đến nhà thờ tức là đã đến bà con trong họ. Mong bà con thông cảm”. Bác trở ra theo đường chính của làng về ngôi nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Đồng chí Hà Ngạn-Chủ tịch xã đã đứng sẵn ở cổng nhà khách kính cẩn mời Bác vào. Bác cười và chỉ vào ngôi nhà xưa của cụ Phó bảng, nơi Người đã sống từ thuở niên thiếu rồi nói: “Nhà khách là nơi để tiếp khách. Bác là chủ để Bác vào thăm nhà!”. Sau hơn năm mươi năm xa cách, trải qua biết bao gian lao, vất vả, ngày đêm lo nghĩ việc cứu dân, cứu nước, thế mà khi trở về nhà, Người vẫn nhớ như in hình dáng, vị trí của từng đồ vật trong nhà, từng cây trồng trước sân. Khi đi từ nhà mình ra ngõ, dừng chân, nhìn về phía cuối đường nhỏ, nơi thuở niên thiếu Bác thường giúp chị gánh nước về nấu ăn, Người hỏi bà con: “Giếng Cốc nay còn nữa không? Nước giếng Cốc trong và ngọt, nấu nước chè xanh, làm tương ngon nổi tiếng cả vùng”. Rẽ về phía trái, chỉ vào một lối đi, Bác hỏi: “Trong này có lò rèn cố Điền, mấy lâu nay có tiếp tục rèn nữa không?”. Vừa lúc đó, ông Hoàng Xuân Điền (con trai đầu của cố Điền), bạn thuở nhỏ với Bác từ nhà mình đi ra, hai người bạn già gặp nhau, ông Điền vội chạy lại ôm chầm ngang cánh tay phải của Bác. Bác cảm động hỏi: “Trông ông Điền còn khỏe, lâu nay có tiếp tục rèn nữa không?”. Ông Điền thưa: “Lâu nay tôi để cho đứa con trai đầu làm”. Người động viên ông Điền : “Ừ, tiếp tục rèn để bà con có công cụ mà sản xuất ”. Có thể nói, dù xa quê đã lâu nhưng hình ảnh mỗi con người, cảnh vật không bao giờ phai mờ trong tâm trí của Bác. Bác ra sân vận động làng Sen nói chuyện với bà con xã Kim Liên dưới gốc đa tại sân vận động của làng. Các cháu thiếu nhi ùa lại tặng hoa. Bác âu yếm từng cháu, vẫy tay chào mọi người. Bác hỏi thăm sức khỏe, tình hình đời sống và căn dặn: Xây dựng Kim Liên thành một xã gương mẫu. Cuối buổi nói chuyện, Bác cùng đồng bào hát chung bài hát “Kết đoàn”. Sau đó, Bác lên thăm sư đoàn 324 (sư đoàn Quảng Ngãi) một đơn vị của Quân khu IV, đóng tại Núi Đụn, có nhiều bộ đội miền Nam tập kết.
14h chiều Bác nói chuyện với Đại biểu nhân dân tại hội trường tỉnh (nơi có bia dẫn tích gần cửa số 6 sân vận động thành phố Vinh ngày nay). Khi Bác vào hội trường các đại biểu đã có mặt đầy đủ, cả hội trường không ngớt lời hô vang dội “Hồ Chủ tịch muôn năm, Bác Hồ muôn năm!”; “Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!”. Đợi một lúc, Bác đưa tay ra hiệu để mọi người im lặng và cất tiếng nói trầm ấm:
Thưa các cụ phụ lão! Thưa các đại biểu! Tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ gửi đến các cụ và tất cả các đại biểu lời chào thân ái.
Tôi là một người con tỉnh nhà đã hơn 50 năm xa cách quê hương. Hôm nay là lần đầu trở về thăm tỉnh nhà. Có thể nói là:
“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.
Dường như cả đất trời cũng lặng im để lắng nghe từng lời của Bác. Nhiều cụ già mắt rưng rưng, nhớ lại những năm tháng bôn ba đầy gian nan, nguy hiểm trong cuộc đời hoạt động cách mạng mà Bác đã trải qua. Bác tiếp tục nói: “Thông thường, đi xa lâu ngày, khi trở về người ta hay mừng mừng, tủi tủi. Riêng tôi, tôi không tủi mà chỉ thấy mừng. Mừng mừng là vì sao? Từ lúc tôi ra đi và bây giờ trở lại, thấy nước ta nói chung, tỉnh ta nói riêng có thay đổi rất nhiều. Thay đổi quan trọng nhất là lúc tôi ra đi, nước ta đang còn bị thực dân cai trị, đồng bào ta đều là những người nô lệ, bây giờ trở về thì đồng bào miền Bắc nói chung, Nghệ An nói riêng, là những công dân tự do, làm chủ đất nước. Đó là thay đổi to nhất…”
Tối 14/6/1957, Bác đến xem đoàn Văn công Nghệ An biểu diễn tại địa điểm Hội trường phân hiệu 4, Trường Chính trị (Nay thuộc khu đất của Sở Tài chính Nghệ An).
Ngày 15/06/1957 Bác ghé vào thăm công trường nhà máy điện Vinh. Bác hỏi thăm sức khỏe, nói chuyện thân mật với cán bộ, công nhân và gửi lời cảm ơn các đồng chí chuyên gia Liên Xô đã cùng đồng cam cộng khổ trên công trường, ra sức thi đua, làm nhanh, làm tốt để đưa Nghệ Tĩnh sớm có điện. Bác đến thăm Trại trẻ miền Nam tại thành phố Vinh, phát quà cho các cháu, kiểm tra nhắc nhở những người làm công tác nuôi dạy trẻ, thể hiện tình cảm “miền Nam trong trái tim tôi” của Người. Bác tới thăm và làm việc với Quân khu IV. Bác khen những thành tích, ưu điểm mà cán bộ chiến sỹ toàn Quân khu đã đạt được song Người cũng chỉ ra những khuyết điểm và yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, trong suốt buổi nói chuyện, Bác đã nhắc đi nhắc lại câu: “phải đoàn kết”. Bác nhấn mạnh: “Phải đoàn kết, quân đội ta phải đoàn kết, phải cố gắng đoàn kết hơn nữa. Đoàn kết nội bộ, toàn quân đoàn kết, các chiến sỹ miền Nam và miền Bắc phải đoàn kết chặt chẽ, không chia Nam, Bắc, cán bộ và chiến sỹ đoàn kết, quân và dân đoàn kết. Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Địch mạnh ta yếu nhưng nhờ đoàn kết mà ta đã thắng lợi. Ngày nay quân đội ta muốn tiến lên chính quy và hiện đại thì càng phải đoàn kết để luyện tập, để khi cần thì chiến đấu tốt. Đồng thời bộ đội phải góp phần vào công việc sản xuất thắng lợi, xây dựng miền Bắc vững mạnh, thực hiện thống nhất nước nhà thành công. Hôm nay nói chuyện với các cô, các chú. Bác có 3 điều khen ngợi, 4 điều phê bình, 5 điều dặn dò. Những điều khen ngợi thì cố gắng phát triển. Những điều phê bình thì cố gắng sửa chữa. Những điều dặn dò thì cố gắng làm cho đúng. Bác mong các cô, các chú ngày càng tiến bộ”. Bác đã tranh thủ từng phút từng giờ để đi thăm hỏi được nhiều nơi, đến với nhiều ngành nghề, lứa tuổi. Ai ai cũng cảm nhận được tình cảm ấm áp thân thương, sự giản dị gần gũi của Người.
Dẫu suốt cuộc đời hoạt động cách mạng với nhiều gian khổ, hy sinh nhưng hình ảnh quê hương luôn thường trực trong trái tim Bác. Trải qua 68 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê hương Nghệ An lần thứ nhất (từ ngày 13/06 đến ngày 16/06/1957) nhưng những lời dạy, tình cảm cao quý của Người vẫn luôn khắc sâu trong tâm khảm nhân dân xứ Nghệ. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An nguyện đoàn kết một lòng, quyết tâm phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, xây dựng tỉnh nhà trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc như sinh thời Bác Hồ muôn vàn kính yêu hằng mong muốn./.

Lê Hà









