Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với lớp tập huấn chính trị cho giáo viên cấp II và III toàn miền Bắc. Người căn dặn: “ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người… Tất cả các giáo viên chớ nên cho học thế là đủ, mà phải tiếp tục học tập thêm để tiến bộ mãi”. Hà Nội, ngày 13-9-1958.
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [1].
Với mong muốn thay đổi bản chất nền giáo dục cũ phong kiến, thực dân, xác lập nền giáo dục dân tộc, dân chủ, lấy con người làm trọng tâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hướng đến nền giáo dục nhằm đào tạo con người phát triển toàn diện, trở thành chủ nhân của nước nhà: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” [2].
Xuất phát từ tình thương yêu con người rộng lớn, từ chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, nhằm mục đích độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập nền giáo dục mới của Việt Nam nhằm mở mang dân trí cho toàn dân. Người luôn quan tâm, yêu thương, trân trọng con người, mong muốn làm cho con người ngày càng tốt đẹp hơn, biết phát huy tất cả tiềm năng của mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để xây nền móng cho nền giáo dục mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo bản sắc truyền thống hiếu học của dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa của nhân loại. Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học từ lâu đời; Trong đấu tranh giữ nước và chống chọi với thiên tai, con người Việt Nam luôn luôn vươn lên làm chủ đất nước, làm chủ thiên nhiên, do đó luôn khao khát được học để có trí tuệ. Tuy nhiên, chế độ lúc bấy giờ đã kìm hãm ý tưởng và lòng khao khát được học của họ. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh thấu hiểu nỗi khổ thất học của dân tộc. Người đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, sang Phương Tây tìm hiểu nền giáo dục của họ để về khai sáng nền giáo dục Việt Nam. Vấn đề cơ bản, nổi bật trong tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở việc định ra vai trò, mục đích, phương pháp và nội dung giáo dục.
- Vai trò, mục đích của giáo dục
Tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng dạy và học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Tháng 9/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương tại Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang (nay là học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Người đã ghi vào trang đầu Sổ vàng của Trường lời căn dặn: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” [3]. Nền giáo dục mới của Việt Nam được Người định hướng phát triển là nền giáo dục toàn dân; là nền giáo dục toàn diện; là nền giáo dục tiên tiến, hiện đại; mục đích của giáo dục là đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện mục đích đó, ngay sau cách mạng tháng Tám thành công, trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng non trẻ, bên cạnh hai nhiệm vụ diệt giặc đói và giặc ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy và xem dốt cũng là một thứ giặc nguy hiểm đến vận mệnh và tiền đồ của đất nước. Tại phiên họp thứ nhất Hội đồng Chính phủ, ngày 3/9/1945, Người xác định rõ diệt giặc dốt là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ “nạn dốt” bởi theo Người: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [4]. Tiếp đó, trong bài Chống nạn thất học ngày 4/10/1945, Người nhấn mạnh: “… Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí. Chính phủ đã ra hạn trong một năm, tất cả mọi người Việt Nam đều phải biết chữ quốc ngữ. Chính phủ đã lập một Nha Bình dân học vụ để trông nom việc học của dân chúng… Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ… những người chưa biết chữ nhiều hãy gắng sức mà học…” [5], để ai cũng biết đọc biết viết, tự nâng cao trình độ, lý tưởng cách mạng cho mình, thức tỉnh ý thức tự chủ trong mỗi công dân Việt Nam. Qua phong trào này, đã tạo được cuộc cách mạng toàn dân học chữ quốc ngữ để xóa bỏ hoàn toàn giặc dốt. Nhờ nét độc đáo, sáng tạo của phong trào đã thu hút hàng triệu người dân tham gia. Chỉ một thời gian ngắn sau khi phong trào Bình dân học vụ được phát động thì hầu hết người dân Việt Nam từ 8 tuổi trở lên đều biết đọc, biết viết. Tuy nhiên, là người lãnh đạo của nước Việt Nam mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ mong mọi người chỉ dừng lại ở chỗ biết đọc, biết viết, mà Người còn mong muốn đưa dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc giàu tri thức, sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ gửi thư cho các em học sinh và nhắn nhủ: “… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”… [6].
Từ nhận thức sâu sắc về vai trò và mục đích của giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời mình cho việc chăm lo, mở mang, xây dựng và phát triển một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa – một nền giáo dục mà mọi người đều được học, được tham gia, phát huy hết khả năng của mình, không phân biệt nam, nữ, tuổi tác, giai cấp, dân tộc… Người luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục từ việc xóa nạn mù chữ, giáo dục ở cấp học Tiểu học đến Trung học, Chuyên nghiệp và Đại học. Ở cấp tiểu học và Trung học, Người xác định rõ mục đích của việc giáo dục đào tạo là: “Tiểu học và Trung học là giáo dục phổ thông, nó bồi dưỡng học sinh thành những người công dân có giác ngộ, có văn hóa, có sức khỏe, thành đạo quân lao động hậu bị to lớn: Mục đích chính của học sinh là để góp phần vào sản xuất của xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng suất lao động…” [7]. Bên cạnh việc quan tâm đến giáo dục phổ thông, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục Đại học. Chỉ ít ngày sau khi tuyên bố độc lập, xét rằng cần phải nâng cao vai trò, vị trí của các khoa học văn khoa cho tương xứng với một nước độc lập và để theo kịp bước các nước tiên tiến trên hoàn cầu, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 45 thành lập Ban Văn Khoa đại học tại Hà Nội (tức là trường Đại học Văn khoa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Hà Nội) để đào tạo luyện những Giáo sư cho bậc Trung học mới và để giúp những nhà học giả khảo cứu hết thảy mọi vấn đề liên lạc đến nền văn hóa nước Việt Nam và các nước trên thế giới… Nhờ chủ trương, chính sách về giáo dục của Người, chỉ sau một thời gian hoạt động, hệ thống các trường Tiểu học, Trung học, Chuyên nghiệp và Đại học đã đào tạo được những thế hệ học sinh, cán bộ giáo dục có phẩm chất, chuyên môn để kế tục sự nghiệp cách mạng xây dựng đất nước giàu mạnh và văn minh…
- Phương pháp giáo dục
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa, phát triển phương pháp giáo dục truyền thống của dân tộc Việt Nam, những tinh hoa phương pháp giáo dục của phương Đông, phương Tây và quan điểm về cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng đưa ra luận điểm công tác giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Sự sáng tạo này đã huy động tối đa toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, tạo ra sức mạnh để huy động tất cả mọi lực lượng chính quyền, đoàn thể, gia đình và xã hội tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục, không chỉ bằng vật chất, mà chủ yếu là để xây dựng con người mới. Trong bức thư gửi các cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân, nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó” [8]. Sự quan tâm về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện từ việc đưa ra những cải cách giáo dục sáng tạo, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bầy giờ cũng như việc lựa chọn đội ngũ cán bộ đến cơ chế vận hành bộ máy giáo dục từ trung ương đến địa phương, từ những chính sách cụ thể đến những hình thức đa dạng hóa giáo dục…
Để đảm bảo cho sự nghiệp giáo dục phát triển tốt đẹp, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải xây dựng được một đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Trong bài nói chuyện tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội ngày 22 tháng 10 năm 1964, Người nói: “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” [9]. Mục tiêu của nền giáo dục mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng tới là đào tạo những con người mới vừa có đức vừa có tài; xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng đông đảo, trình độ ngày càng cao… Xuất phát từ mục đích đó, qua kinh nghiệm thực tiễn dạy học và trực tiếp đào tạo bồi dưỡng những lớp cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những quan điểm toàn diện, sáng tạo, độc đáo về phương pháp giáo dục, có ý nghĩa chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp giáo dục của nước nhà.
Thứ nhất là kết hợp học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong triết học, trong quy luật nhận thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, nhuần nhuyễn nguyên tắc này trong phương pháp cách mạng nói chung và phương pháp giáo dục nói riêng. Người chỉ rõ: học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với công tác thực tế; học là cốt để áp dụng vào thực tế. Nói chuyện với học sinh và giáo viên trường phổ thông cấp III Chu Văn An (Hà Nội) ngày 31/12/1958, Bác nói: “Trước: các cháu chỉ học trong sách. Bây giờ: học và thực hành kết hợp với nhau… Học đi với lao động. Lý luận đi với thực hành”...“Học không phải để nói mép, nhưng biết lý luận mà không thực hành là lý luận suông. Học là để áp dụng vào việc làm” [10]. Đây là một trong những nội dung rất quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục. Để công tác giáo dục có hiệu quả, đáp ứng với sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, người nhắc nhở và yêu cầu nhà trường, người đi học, người dạy học phải coi trọng việc kết hợp giữa học và hành. Học là để tiếp thu tri thức khoa học, hành là biến những trí thức khoa học đó thành hiện thực trong cuộc sống. Học và hành có mối quan hệ biện chứng với nhau. Vì vậy, khi dạy và học phải liên hệ với thực tế trong và ngoài nước. Đây là những quan điểm về nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của Người, đồng thời thể hiện rõ quan điểm phê phán lối đào tạo ưa chuộng chữ nghĩa, sách vở, xa rời cuộc sống… Người thầy không chỉ đơn thuần trang bị kiến thức, trí thức, cách vận dụng trí thức, kiến thức đó vào công việc mà còn có trách nhiệm trực tiếp rèn luyện về tư cách, đạo đức, lối sống, tác phong cho người học, đồng thời phải là tấm gương cho người học noi theo. Phương pháp học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn đã được mọi cấp mọi ngành thực hiện trong quá trình xây dựng nền giáo dục mới ở Việt Nam.
Thứ hai là dạy học phải đi từ dưới lên trên, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, phù hợp với từng đối tượng: “Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà. Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng đất nước. Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, trọng của công. Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép tiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn…” [11]. Đây là một trong những quan điểm cơ bản về phương pháp giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người, công tác giáo dục muốn có kết quả phải huấn luyện từ dưới lên trên. Khi đất nước mới giành chính quyền và trong điều kiện kháng chiến, nền giáo dục chưa phát triển thì phải biết phát huy mọi người cùng tham gia công tác huấn luyện. Bằng cách lấy người biết nhiều dạy người biết ít, người biết ít dạy người chưa biết, phải lấy người cấp dưới lên huấn luyện rồi trở lại cấp dưới để họ huấn luyện cấp dưới nữa. Những tư tưởng trên thực chất Chủ thịch Hồ Chí Minh mong muốn giáo dục và học tập phải có chương trình, kế hoạch, phương pháp phù hợp với từng đối tượng, đòi hỏi yêu cầu cao cả đối với người dạy và người học. Bất cứ cấp học nào cũng phải bắt đầu từ gốc đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ nông đến sâu, chớ nên tham lam, nhồi nhét một lúc. Cho nên phải hiểu rõ người học, không được chủ quan, tùy tiện, ba hoa, gặp sao nói vậy, phải biết lựa chọn, sắp xếp tài liệu, phải biết dùng các thuật ngữ, phải biết trình bày cho dễ hiểu, phải biết kết hợp giữa giảng tỉ mỉ với giảng khải quát. Người nhấn mạnh, phải coi trọng chất lượng, cốt thiết thực, phê phán cách dạy không tốt như: Tham lam tri thức, thính dùng chữ Hán…
Thứ ba là phải lấy tự học làm cốt, phải nâng cao hướng dẫn việc tự học, tự đào tạo. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc năm 1947, phần nói về vấn đề cán bộ, Người quan niệm về cách học phải: “Lấy tự học làm cốt” [12]. Người chỉ rõ: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót lớn” [13]. Bởi theo Người, dân ta rất thông minh, rất sáng suốt, nên mọi kinh nghiệm sản xuất, đánh giặc, vận động quần chúng đều phải học từ dân, có dân là có tất cả; Đồng thời, phát huy tích cực tính chủ động và năng lực tư duy sáng tạo của người học. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phương pháp dạy và học có hiệu quả nhất là phải có tính sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, đòi hỏi cả người dạy và người học phải áp dụng vào thực tế công tác của mình cho linh hoạt. Người yêu cầu: “Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ” [14]. Phải xác định việc học là suốt đời, “Học không bao giờ cùng, học mãi để tiến bộ mãi, càng tiến bộ, càng thấy cần phải học thêm” [15]. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về nhân cách giáo dục. Cuộc đời tự học của Người là nguồn cổ vũ, động viên, khích lệ hàng triệu người dân Việt Nam noi theo. Ngay từ khi còn nhỏ theo cha học chữ quốc ngữ, hay cả khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, Người đã tự tìm tòi, học hỏi, tự học không biết mệt mỏi. Với Người, không có thời gian rảnh rỗi, nếu không làm việc thì Người tự học ngoại ngữ, đọc sách, xem báo… Người có thể học bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu và bằng bất cứ phương tiện gì.
Những nội dung cơ bản của một nền giáo dục mới, cùng với nhân cách cao đẹp và mẫu mực của mình đã đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh lên vị trí một nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng giáo dục của Người đã vạch ra phương hướng cơ bản của chiến lược con người, chiến lược phát triển giáo dục ở nước ta trong 80 năm qua (1945 – 2025) và cả trong tương lai. Những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở Việt Nam luôn có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc./.
Chú thích:
[1, 7, 10, 12]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.528, 211-212, 594, 98 [2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 13, tr.66 [3, 14, 15]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.IX, 361, 61 [4, 5, 6]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.7, 40-41, 35, [8]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.508 [9]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 14, tr.402. [11]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.186 [13]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.312VƯƠNG NGA

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp vỡ lòng Trường cấp I dân lập, phố Hàng Than. Hà Nội, ngày 31-12-1958.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu niên học sinh xuất sắc trong phong trào “Thiếu nhi làm nghìn việc tốt” tham dự Đại hội chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước. Hà Nội, ngày 4-1-1967.
- ĐOÀN CÔNG TÁC VĂN PHÒNG CƠ QUAN HỢP TÁC QUỐC TẾ NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM VÀ VĂN PHÒNG TỔ CHỨC XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI NHẬT BẢN TẠI HÀ NỘI VỀ THĂM KHU DI TÍCH KIM LIÊN
- KẾ HOẠCH VÀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2021 CỦA KHU DI TÍCH KIM LIÊN
- TẶNG QUÀ CHO NGƯỜI NGHÈO – NGHĨA CỬ CAO ĐẸP
- Công tác chuẩn bị đón tết tại Khu di tích Kim Liên
- ĐOÀN ĐẠI BIỂU DỰ HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ “Chí sỹ Phan Bội Châu – Bác sỹ Asaba – Sakirato và Quan hệ hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản” về thăm quê Bác









