THƯ BÁC HỒ GỬI GIA ĐÌNH BÁC SĨ VŨ ĐÌNH TỤNG VÀ CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG

Nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày thương binh, liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2025) xin giới thiệu bức thư Bác Hồ gửi gia đình bác sĩ Vũ Đình Tụng để chia sẻ nỗi đau thương vô hạn tới gia đình bác sĩ, khi nhận được tin người con trai của bác sĩ đã anh dũng hy sinh trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Thủ đô Hà Nội. Mặc dù là bức thư riêng chia sẻ nỗi đau mất mát người thân của bác sĩ, nhưng qua đó chúng ta thấy được tình yêu thương bao la, sự quan tâm, chia sẻ của Bác Hồ đối với thương binh, gia đình liệt sĩ – những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Bức thư được Bác viết vào đầu năm 1947.

Nội dung bức thư như sau:

 “Thưa ngài,

Tôi được báo cáo rằng: Con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Ðức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là dân tộc anh hùng. Ðồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

Ngài đã đem món của quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn ngài, và gửi ngài lời chào thân ái và quyết thắng.

Tháng 1 năm 1947
Hồ Chí Minh”
[1]

Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ đã thúc giục biết bao nam nữ thanh niên rời mái ấm gia đình xung phong ra mặt trận. Không ít chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch để ngăn chặn bước tiến của chúng, tạo thời gian cho các cơ quan Đảng, Nhà nước và nhân dân sơ tán, chuẩn bị cho một gian đoạn chiến đấu mới. Họ hóa thân vào đất nước để sống mãi cùng Tổ quốc. Trong số những chiến sĩ dũng cảm ấy, có anh Vũ Đình Thành – con trai của bác sĩ Vũ Đình Tụng, cũng chính là người con trai được Bác Hồ nhắc đến trong bức thư. Vũ Đình Thành là một chiến sĩ trẻ đã hy sinh trong khi chiến đấu bảo vệ Thành Hà Nội.

Đọc lá thư Bác Hồ gửi bá sĩ Vũ Đình Tụng, chúng ta lại nhớ tới câu chuyện vô cùng xúc động của gia đình bác sĩ. Bác sĩ Vũ Đình Tụng (1895-1973) là một trí thức công giáo yêu nước, có cảm tình với cách mạng và giàu lòng nhân ái. Ông là một trong những bác sĩ đầu ngành về ngoại khoa của y học Việt Nam.

Những ngày đầu sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát lệnh toàn quốc kháng chiến, bác sĩ luôn làm việc với tinh thần quên mệt mỏi. Vào một đêm tháng Chạp năm 1946, bác sĩ phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ vệ quốc quân từ khắp các mặt trận ở cả nội và ngoại thành chuyển về. Cũng trong đêm dó, bác sĩ đã tiếp nhận ca mổ rất khó. Đó là ca mổ cho một chiến sĩ tự vệ Thành Hà Nội – chiến sĩ “sao vuông” rất trẻ. Anh bị thương do một đường đạn ở sau lưng, phá ra phía trước, vỡ nát phần ruột. Người chiến sĩ ấy đau đớn vậy nhưng trên môi vẫn nở nụ cười rất tươi. Nụ cười thân thuộc ấy làm cho bác sĩ Vũ Đình Tụng chết lặng vì ông nhận ra người chiến sĩ ấy là con trai út của mình – Vũ Đình Thành. Thần kinh bác sĩ căng lên vì lúc đó không còn ai khác có thể thực hiện ca mổ. Trong lúc cấp bách ấy, nếu không nhanh chóng xử lý vết thương thì không kịp, bác sĩ đã trực tiếp thực hiện ca mổ đó. Ông phải cố nghiến răng, bình rĩnh gắp mảnh đạn cuối cùng trên thân thể con  trai mình. Thế nhưng vết thương quá nặng đã cướp đi người con trai thứ hai của bác sĩ (anh trai Vũ Đình Thành là Vũ Đình Tín cũng đã hy sinh sau ngày Tổng khởi nghĩa). Nỗi đau này quá lớn đối với trái tim người cha – bác sĩ Vũ Đình Tụng.

Sau đêm Noel 1946, bệnh viện Bạch Mai bị pháo giặc tàn phá, phải di chuyển ra ngoại thành. Vào một chiều mưa phùn gió bấc, sau khi mổ xong cho một ca thương binh, bác sĩ Vũ Đình Tụng nhận được một bức thư. Những tưởng là mệnh lệnh mới của Chính phủ, nhưng đó là một bức thư riêng chứa đầy tình cảm lớn lao của Bác Hồ, mà trong đó Bác Hồ đã tôn trọng gọi bác sĩ là “Ngài”.

Đọc thư, bác sĩ vô cùng cảm động bởi tình thương bao la, gần gũi, thân thương của Bác Hồ đối với mỗi gia đình Việt Nam. Cả cuộc đời Bác vì nước, vì dân không có điều kiện dành cho hạnh phúc riêng. Bác coi “nước Việt Nam là đại gia đình”, coi tất cả “thanh niên Việt Nam là con cháu”. Cuộc chiến tranh mà bọn xâm lược gây ra đã cướp đi biết bao đứa con thân yêu của những người cha, người mẹ, hàng triệu con cháu của Bác Hồ. Máu của những người con ấy hòa vào dòng sông, con suối; di hài các anh hóa vào đất nước, quê hương. Đằng sau nụ cười ngày chiến thắng là những dòng nước mắt chảy vào trong, là nỗi “đau đớn đến bàng hoàng” của những người cha, người mẹ mất con như bác sĩ Vũ Đình Tụng, là nỗi đau “như đứt một đoạn ruột” của người Cha già kính yêu.

Trong thư, Bác cũng khẳng định công lao vô cùng to lớn của những người thanh niên trẻ tuổi: “… Cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi”.

Sự hy sinh của các thương binh, các liệt sĩ đối với dân tộc, với đất nước là sự hy sinh cao cả. Máu đào của họ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói; sự hy sinh của họ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Họ chính là những thanh niên anh hùng. Và Bác khẳng định: “Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ”.

Bên cạnh sự an ủi, động viên, chia sẻ những đau thương, mất mát, Bác luôn là biểu tượng mẫu mực biến đau thương thành hành động. Qua thư, Bác khuyên bác sĩ Vũ Đình Tụng “thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà”, bởi đó là cách tri ân, sự đền đáp xứng đáng nhất của những người đang sống, đang chiến đấu với những người đã mất để linh hồn các anh ở “trên trời cũng bằng lòng và sung sướng”.

Đọc xong thư, bác sĩ vô cùng bàng hoàng và xúc động. Bởi, trong những ngày tháng ấy, vận mệnh của dân tộc đang đè nặng trên đôi vai gầy của Bác. Bác bận trăm công nghìn việc như vậy mà Bác vẫn nghĩ tới gia đình của ông có cái tang đau lòng như rất nhiều gia đình khác. Bác sĩ cảm thấy nỗi đau và sự mất mát của gia đình mình trở nên nhỏ bé trong tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với dân tộc. Bác sĩ đã tự nhủ phải làm tốt công việc để xứng đáng với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác. Thời gian sau đó, bác sĩ xung phong theo Bác Hồ lên Việt Bắc – căn cứ địa của cách mạng Việt Nam, tiếp tục làm việc, chiến đấu và cứu chữa rất nhiều chiến sĩ bị thương ngoài mặt trận. Cứ mỗi một chiến sĩ được cứu chữa khỏi bệnh trở về đơn vị, bác sĩ như được tiếp thêm sức mạnh, vì nhìn những thanh niên đó, bác sĩ lại thấy hình bóng những người con của mình. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, bác sĩ đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh của nước Việt Nam mới.

Trải qua nhiều khó khăn gian khổ của cuộc kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã bao lần đọc lại bức thư của Bác, khi thì đọc cùng gia đình, khi thì đọc cùng anh em đồng nghiệp, không lần nào bác sĩ không bồi hồi trước tình thương mênh mông của Bác. Bức thư cũng chính là niềm động viên, an ủi và khích lệ, giúp bác sĩ hoàn thành tốt những trọng trách được giao, đóng góp một phần nhỏ công sức cho cách mạng.

Năm 1973, trước lúc qua đời, bác sĩ đã trao lại bức thư cho con trai cả Vũ Đình Tuân và nói: “Đây là báu vật của gia đình, nhưng cũng là vật quý của dân tộc… lá thư riêng này mang nặng tình cảm của cả núi sông, của lịch sử…”. Năm 1985, anh Vũ Đình Tuân đã tặng lại bức thư cho Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) để có điều kiện bảo quản tốt hơn, đồng thời phục vụ khách tham quan nghiên cứu và học tập.

Ngày nay, bức thư Bác Hồ gửi gia đình bác sĩ Vũ Đình Tụng đã trở thành vật báu quý giá không chỉ đối với riêng gia đình bác sĩ, mà còn là vật báu của cả dân tộc Việt Nam.

Bức thư là minh chứng cho ân tình sâu nặng của Bác Hồ đối với thương binh, liệt sĩ, những người không tiếc máu xương của mình hy sinh cho Tổ quốc. Bức thư cũng chính là những lời chia sẻ, động viên, khích lệ kịp thời của Bác, giúp các gia đình liệt sĩ vơi bớt phần nào nỗi đau mất mát người thân, cảm thấy tự hào với những gì họ đã và đang cống hiến cho Tổ quốc, cho đất nước, giúp họ có thêm nghị lực để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.

Bác luôn nhắc nhở toàn thể nhân dân Việt Nam phải: “… đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta” [2].

Tháng 6 năm 1947, Bác chỉ thị chọn một ngày trong năm làm ngày Thương binh Liệt sỹ để đồng bào ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái và tấm lòng yêu mến thương binh. Hưởng ứng và đáp lại tấm lòng của Bác, một hội nghị trù bị khai mạc tại xã Minh Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nhất trí lấy ngày 27/7 hàng năm làm ngày Thương binh toàn quốc. Sáng ngày 27/7/1947, bên gốc cây đa cổ thụ, Lễ công bố ngày Thương binh toàn quốc được tổ chức long trọng.

Nhân dịp này, Bác phát động phong trào ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp đỡ thương binh: “Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ăn một bữa để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp đỡ chiến sĩ bị thương” [3]. Bác luôn là người tiên phong gương mẫu thực hiện: “Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi, và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng” [4] để ủng hộ và giúp đỡ thương binh.

Tình cảm Bác dành cho dân tộc ta, non sông ta nói chung và thương bệnh binh, các gia đình có công với cách mạng nói riêng thật lớn lao. Bác căn dặn: “Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta” [5].

Học tập và thực hiện những lời căn dặn của Bác, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn thực hiện tốt truyền thống, đạo lý uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa. Hàng năm, cứ mỗi dịp lễ, tết, đặc biệt là dịp 27/7, những hoạt động thăm hỏi, động viên, tặng quà, vinh danh, tri ân các gia đình thương binh, liệt sĩ ngày càng được thực hiện tốt hơn, hiệu quả và đi vào chiều sâu…

Vương Nga

 

Chú thích:

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.49. [2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr.401. [3]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.204. [4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.205. [5]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr.401.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *