“Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945” của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh).
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Người suốt đời phấn đấu hy sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của Nhân dân. Người đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản tư tưởng, tinh thần quý báu. Trong đó, có nhiều tác phẩm tiêu biểu, đánh dấu những sự kiện quan trọng, gắn với những bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 của Người là một tài liệu như thế.
- Hoàn cảnh ra đời của Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa
Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người chọn Pác Bó – Cao Bằng là trụ sở để xây dựng căn cứ địa cách mạng. Tháng 5-1941, Hồ Chí Minh trực tiếp triệu tập Hội nghị Trung ương VIII, nhằm chuẩn bị mọi mặt về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng các đoàn thể cứu quốc và thành lập Mặt trận Việt Minh. Hội nghị phân tích tình hình và chỉ rõ: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” [1].
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, Đảng đã chủ động vạch ra những nhiệm vụ chiến lược, sách lược sát đúng với tình hình. Ngày 12-3-1945, Hội nghị Thường vụ mở rộng họp và đề ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Trong bản Chỉ thị đó đã dự báo thời cơ của nhân dân ta vùng dậy đấu tranh, đó là: Quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật và Nhật đầu hàng quân Đồng Minh. Đúng như dự báo của bản chỉ thị, sau khi Hồng quân Liên Xô tiêu diệt một triệu quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc và Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống hai thành phố lớn nhất của Nhật…
Nắm bắt rõ tình hình trong nước và thế giới đang có lợi cho ta, vì thế, vào tháng 7-1945, cho dù đang bị ốm giữa rừng Tân Trào, Hồ Chí Minh nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” [2]. Sau đó, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945 đã đi đến kết luận: Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi, vì vậy, phải kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội, tất cả vì mục tiêu: Việt Nam hoàn toàn độc lập. Đến 23 giờ ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1. “Giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà… Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!… Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!” [3]. Từ ngày 14 – 18/8/1945, nhân dân cả nước đã đồng loạt đứng dậy, tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chúng ta đã giành thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận các tỉnh miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình quốc tế, khu vực, trong nước, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh và Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng đã không ngừng lớn mạnh, cao trào kháng Nhật cứu nước đã phát triển mạnh mẽ, nhất là sau cuộc đảo chính Nhật – Pháp dẫn đến sự thất bại của quân đội Nhật. Trước tình hình đó, ngay trong ngày 18/8/945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Ủy ban Dân tộc Giải phóng viết Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa gửi quốc dân, đồng bào.
- Nội dung và ý nghĩa của Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa
Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo với đồng bào tin Nhật đầu hàng; sự lớn mạnh của Mặt trận Việt Minh; sự ra đời của Ủy ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam do Việt Nam Quốc dân đại biểu Đại hội cử ra, cho đó là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta: “Hiện nay quân đội Nhật đã tan rã, phong trào cứu quốc lan tràn khắp nước Việt Nam Độc lập Đồng Minh (Việt Minh), có hàng chục triệu hội viên, gồm đủ các tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh, gồm đủ các dân tộc Việt, Thổ, Nùng, Mường, Mán. Trong Việt Minh đồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt trai, gái, già, trẻ, lương, giáo, giầu, nghèo.
Vừa đây Việt-Minh lại triệu tập “Việt-Nam Quốc-dân Đại-Biểu Đại-Hội, cử ra Ủy-ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam để lãnh đạo toàn quốc dân kiên quyết đấu tranh kỳ cho nước được độc lập.
Đó là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay” [4].
Đồng thời, Người cũng chỉ rõ việc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta còn gay go, dằng dai, “không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do. Chúng ta vẫn phải ra sức phấn đấu. Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập”. Người khẳng định “Việt-Minh là cơ sở cho sự đoàn kết, phấn đấu của dân tộc ta lúc này”. Người động viên đồng bào: “hãy gia nhập Việt-Minh, ủng hộ Việt-Minh, làm cho Việt-Minh rộng lớn mạnh mẽ”.
Người giải thích: Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam chính là Chính phủ lâm thời của nước ta trong lúc này. Hãy đoàn kết xung quanh Chính phủ để giành lại quyền độc lập cho Tổ quốc: “Ủy-ban Dân-tộc Giải phóng Việt-Nam cũng như Chính-phủ lâm thời của ta lúc này hãy đoàn kết chung quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước. Như vậy thì Tổ Quốc ta nhất định mau được độc-lập, dân tộc ta nhất định mau được tự-do”.
Cuối thư, Người thiết tha kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.
Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.
Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”! [5].
Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một lời hiệu triệu vang vọng non sông. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, khi thời cơ đến, đồng bào cả nước ta đã đồng lòng, nhất tề đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Ngày 19-8-1945, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8-1945, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và các thị xã: Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Lâm Viên, Gia Lai, Tân An, Bạc Liêu. Ngày 25-8-1945, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Lạng Sơn, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Thủ Dầu Một, Châu Đốc, Trà Vinh, Biên Hoà, Tây Ninh, Bến Tre… Như vậy, chỉ trong vòng hơn 10 ngày cuối tháng 8-1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền cả nước thuộc về nhân dân. Ngày 30-8-1945, vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị và tuyên bố “thà làm dân một nước tự do, còn hơn làm vua một nước nô lệ”.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); nhân dân ta từ địa vị nô lệ lên địa vị làm chủ đất nước. Mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập và tự do. Từ đó, ngày 2/9 là Ngày Quốc khánh của nước ta.
Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cách đây 80 năm, song giá trị lý luận và thực tiễn vẫn vẹn nguyên. Đảng, Nhà nước, quân đội, nhân dân ta luôn vận dụng trong nhận định, đánh giá tình hình, xác định đúng đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam; phát huy tốt sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại để lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Nhớ về Bác kính yêu, chúng ta càng tự hào về những năm tháng hào hùng của mùa Thu năm 1945, tự hào về sự chỉ đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám sẽ mãi mãi tỏa sáng, là nguồn sức mạnh to lớn của thời đại mới, là động lực và chỉ dẫn quan trọng cho sự nghiệp đổi mới, phát huy ý chí tự lực, tự cường, khơi dậy khát vọng xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.
Chú giải:
[1]. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2000, tập 7, tr.113. [2]. Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, 1994, tr.196. [3]. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Sđd, tập 7, tr.421- 422. [4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 3, tr.595. [5]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr.596.
VƯƠNG NGA
- NHÂN DỊP KỶ NIỆM 70 NĂM THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIÊT NAM
- ĐOÀN ĐẠI BIỂU ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN NAM ĐÀN LẦN THỨ XXVII, NHIỆM KỲ 2020 – 2025 DÂNG HƯƠNG TẠI KHU DI TÍCH KIM LIÊN
- ĐOÀN ĐẠI BIỂU ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH THÁI NGUYÊN BÁO CÔNG DÂNG HƯƠNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
- VIỆN 69– BỘ TƯ LỆNH BẢO VỆ LĂNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ THĂM KHU DI TÍCH KIM LIÊN
- THÁNG NĂM – NHỚ VỀ SINH NHẬT BÁC









