Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí minh ra đời sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám. Từ đây, nhân dân ta thoát khỏi xiềng xích nô lệ của thực dân, phong kiến, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Bản Tuyên ngôn đã trở thành văn kiện lịch sử bất hủ, có giá trị to lớn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.
- Tuyên ngôn Độc lập thấm đượm tinh thần yêu nước – một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam

Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, năm 1945. (Nguồn: Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng)
Cách mạng tháng Tám thành công, ngay trong phiên họp đầu tiên với Thường vụ Trung ương Đảng tại Hà Nội (ngày 26-8-1945) để thảo luận những vấn đề đối nội, đối ngoại trong tình hình mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị phải mở rộng hơn nữa thành phần của Chính phủ lâm thời, phải thảo ngay một bản Tuyên ngôn độc lập và tổ chức một cuộc mít tinh lớn để Chính phủ lâm thời ra mắt nhân dân.
Ngày 28-8-1945, trên gác 2 căn nhà số 48 phố Hàng Ngang (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 30-8-1945, sau khi đọc bản thảo Tuyên ngôn Độc lập cho mọi người nghe và hỏi ý kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh không giấu nổi sự sung sướng. Bác nói: Trong đời, Bác đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy. Niềm sung sướng ấy bắt nguồn từ tình cảm yêu nước được hun đúc qua hàng nghìn năm của dân tộc, nay được nở hoa, kết trái.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam luôn là một nét đẹp văn hóa làm nên cốt cách chủ nghĩa anh hùng của người Việt. Từ thời đại Văn Lang với các vua Hùng, trải qua thời Đại Việt với tên tuổi các anh hùng hào kiệt như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, chủ nghĩa yêu nước luôn được bồi đắp. Nay đến thời đại Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước ấy được phát triển rực rỡ với nội dung yêu nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Những áng văn thấm đượm chủ nghĩa yêu nước trong Tuyên ngôn Độc lập làm cho chúng ta thấy rõ niềm tự hào của người viết đã không hổ thẹn với non sông đất nước, với tổ tiên, với sự hy sinh xương máu của những người yêu nước hơn 80 năm nay.
Đọc Tuyên ngôn Độc lập, chúng ta không thể quên những năm tháng tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Đó là hành trình hơn 30 năm của một thanh niên đi tìm đường cứu dân tộc. Đó là hành trình dài tìm phương pháp để vận động, tập hợp, cổ vũ, đoàn kết và tổ chức nhân dân Việt Nam đứng lên cứu Tổ quốc khỏi ách nô lệ. Nhờ kết tinh tình yêu nước của dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã có đủ ý chí và nghị lực làm nên ngày hội cách mạng của nhân dân ta trong những ngày tháng tám năm 1945, lật đổ ách thống trị thực dân hơn 80 năm để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập, đánh đổ chế độ quân chủ hàng nghìn năm để lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Trong Tuyên ngôn Độc lập, tác giả không sử dụng cụm từ “yêu nước” hay “chủ nghĩa yêu nước” nhưng chúng ta nhận thấy rõ chính nhờ tình cảm thiêng liêng ấy mà nhân dân ta đã làm nên một cuộc đổi đời cho dân tộc. Cả một rừng người, ngày hôm qua chính họ đã đứng lên chiến đấu lập nên chính quyền, hôm nay ngày 2-9-1945, họ kéo về Quảng trường Ba Đình, Hà Nội để được nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Họ đã và đang kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, quyết tâm giữ vững nền độc lập vừa giành được.

Ngày 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam).
Chủ nghĩa yêu nước trong Tuyên ngôn Độc lập vừa thấm đượm chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, lại được soi sáng bằng những tinh hoa của thời đại mới, trở thành chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh. Điều nổi bật của chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh đó là yêu nước luôn thống nhất và gắn liền với tình yêu nhân dân. Người khẳng định, độc lập dân tộc phải gắn liền với việc đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Người nói: “Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì” [1]. Tư tưởng yêu nước mới đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, khơi dậy ngay từ những ngày đầu dựng nước, để mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi, ở mọi lĩnh vực đều thực hành thi đua yêu nước. Người chỉ rõ, giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân, đặc biệt là cho thế hệ trẻ phải là việc trước tiên trong sự nghiệp giáo dục. Trong bài viết về Đời sống mới năm 1947, Người nhấn mạnh: “Cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi, phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ” [2]. Sau này, trong 5 điều Bác Hồ dạy thiếu nhi, Bác cũng nêu điều đầu tiên là: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào”. Người muốn thế hệ tương lai của đất nước trước hết phải trở thành người yêu nước, trung thành với Tổ quốc, đồng bào mình.
Trong điều kiệu thế giới hiện tại, vấn đề dân tộc vẫn nổi lên rất gay gắt, trong khi vấn đề toàn cầu hóa lại là xu thế khách quan không một quốc gia nào có thể đứng ngoài thì Tuyên ngôn Độc lập vẫn soi sáng đường chúng ta đi.
- Tuyên ngôn Độc lập – tuyên ngôn về ý chí độc lập, tự cường của dân tộc Việt Nam
Tuyên ngôn Độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh là bản tuyên bố trước thế giới rằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam đứng lên tự giải phóng để làm chủ vận mệnh của mình. Cuộc cách mạng đó đã được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chuẩn bị từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX. Từ những trải nghiệm của bản thân, Nguyễn Ái Quốc đã sớm đưa ra được những luận điểm như là chân lý để mỗi dân tộc đều khẳng định được quyền sống của mình. Người chỉ rõ mọi quốc gia, dân tộc cũng như đối với mỗi người muốn luôn đứng vững và đi lên trong mọi khó khăn thì phải có ý chí tự lập, tự cường. Người khẳng định: “Sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa chỉ có thể là sự nghiệp của chính các dân tộc thuộc địa”. Người kêu gọi nhân dân Việt Nam: “Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”; “Có tự lập mới có độc lập, có tự cường mới có tự do”. Trong tư tưởng, Người luôn nhận thức rõ ràng: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, dân tộc yếu thì không giữ được độc lập, không kiến thiết phát triển được đất nước. Người đã sớm chỉ ra cho mỗi người dân Việt Nam đều phải có trách nhiệm giữ nền độc lập vừa giành được. Người nhắc nhở ngay sau khi tuyên bố độc lập: Chúng ta đã hy sinh xương máu nay mới giành được độc lập, vì vậy phải cố mà giữ lấy và độc lập là của quý giá vô cùng. Trong phiên họp đầu tiên của hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu nhiệm vụ cấp bách là phải làm cho dân tộc ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Tức là phải nâng cao dân trí. Phải làm cho nhân dân thấy rõ muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi và bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia xây dựng nước nhà.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ý chí tự lực, tự cường dân tộc phải được biểu hiện qua hành động của tất cả mọi người Việt Nam. Bất kỳ ở địa vị nào, làm công tác gì đều góp phần làm cho đất nước giàu mạnh. Người đặc biệt nhấn mạnh giáo dục ý chí tự cường cho thế hệ trẻ để họ gắn lý tưởng của mình với mục tiêu cách mạng của dân tộc, của nhân dân. Vì vậy, ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Người chỉ ra nhiệm vụ cho thế hệ trẻ là phải học để có hiểu biết, có kiến thức để làm nhiệm vụ xung kích trong xây dựng một xã hội mới, vì sự trường tồn và phát triển vững vàng của dân tộc. Trong thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người viết: “Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [3]. Đến bức thư cuối cùng gửi riêng cho ngành giáo dục, tháng 10-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật” [4].
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Để hoàn thành sứ mệnh của mình trong xu thế hội nhập và phát triển, giáo dục hơn bao giờ hết phải thấm nhuần tinh thần mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ngay sau ngày tuyên bố độc lập, đó là: Trước hết và cốt nhất là giáo dục tinh thần yêu nước và ý chí tự cường dân tộc.
80 năm đã trôi qua, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, có sức lay động sâu sắc đến hàng triệu trái tim người Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là bản hùng ca khép lại quãng đời nô lệ, mở ra một chân trời mới của lịch sử dân tộc Việt Nam, mà tác phẩm chính luận này mãi mãi có giá trị tinh thần cao quý, muôn đời soi sáng con đường đi cho dân tộc Việt Nam.
Chú thích:
[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.64 [2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.120 [3]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.34-35 [4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.507.
VƯƠNG NGA
- HỘI CỰU CHIẾN KHU DI TÍCH KIM LIÊN
- CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG DẤU ẤN ĐẶC BIỆT TRONG THÁNG 6
- KHU DI TÍCH KIM LIÊN ĐẠT GIẢI CAO TẠI CÁC CUỘC THI ẢNH VÀ THIẾT KẾ SẢN PHẨM LƯU NIỆM CẤP TỈNH
- Hồ Chí Minh cuộc đời như một thông điệp
- KHU DI TÍCH KIM LIÊN THAM DỰ HỘI NGHỊ TỔNG KẾT CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG NĂM 2025 CỦA ĐẢNG BỘ SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN








