BÁC HỒ QUAN TÂM, BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
07/03/2024 11:41:33 SA
Với khát vọng độc lập, tự do cho cả dân tộc, đầu thế kỷ XX, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời xa quê hương, gia đình quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước để giải phóng dân tộc, giải phóng người lao động, trong đó có phụ nữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hội nghị cán bộ Phụ nữ toàn miền Bắc, ngày 26-1-1956 (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh).
 
      Khi còn nhỏ, lúc ở quê nhà, Nguyễn Tất Thành đã chứng kiến nỗi thống khổ của người lao động dưới sự áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và chế độ phong kiến tay sai; trong đó, người phụ nữ bị áp bức bóc lột nặng nề nhất. Ngay từ đó, Người đã cảm nhận và cảm thông với thân phận của những người phụ nữ phải chịu tác động nặng nề của tư tưởng trọng nam khinh nữ. Sau hành trình khảo sát, tìm ra con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người đầu tiên chỉ ra nguyên nhân gây nên nỗi đau khổ, cơ cực của người phụ nữ Việt Nam chính là ách áp bức dân tộc và bóc lột giai cấp của bọn thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Đó là sự áp bức bóc lột về kinh tế, chính trị và văn hóa; tệ nạn phân biệt đối xử giữa nam và nữ; nạn nghèo đói thiếu ăn, sự nghèo nàn dốt nát của một đất nước kém phát triển. Chính vì vậy, Người đã vạch ra con đường đúng đắn cho phụ nữ Việt Nam là tự giải phóng mình. Theo Người, giải phóng phụ nữ không chỉ là vấn đề nam nữ bình đẳng mà phải gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với độc lập dân tộc, với sự giải phóng người lao động nói chung; phải gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với ba cuộc cách mạng giải phóng vĩ đại ở thế kỷ XX là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
      Không chỉ vạch ra con đường đúng đắn nhất cho phụ nữ Việt Nam đứng lên đấu tranh cho quyền lợi của mình, quyền lợi của dân tộc và giai cấp, Hồ Chí Minh cũng là người đầu tiên ở Việt Nam đánh giá đúng vị trí, vai trò, khả năng và những đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng đó: “… An nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” [1]. Hay: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [2].
Chăm lo cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng việc xây dựng các tổ chức của phụ nữ để tập hợp đoàn kết rộng rãi các tầng lớp phụ nữ thành một lực lượng thống nhất, đấu tranh cho mục tiêu chung là độc lập dân tộc và quyền bình đẳng của phụ nữ. Từ năm 1925, khi đang ở Quảng Châu, Người đã tổ chức được “Tổ Phụ nữ cách mạng” gồm 12 hội viên, rồi đến “Hội Phụ nữ phản đế” trong thời gian đấu tranh giành độc lập dân tộc, tới đổi thành “Hội Phụ nữ cứu quốc” trong kháng chiến chống Pháp và “Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam” ngày nay. Khi tuần báo Thanh niên (cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ra đời năm 1925, đã có mục riêng giành cho phụ nữ, đó là mục Phụ nữ đàn. Trong Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2-9-1945, khi trích Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động sửa câu: “… mọi người đàn ông sinh ra đều có quyền bình đẳng” thành câu “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”. Chỉ thêm một từ và bớt một từ thôi nhưng Hồ Chí Minh ngầm tuyên bố với nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới về độc lập, bình đẳng cho phụ nữ Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, khi tờ báo Phụ nữ Việt Nam ra số đầu tiên (số 1-2-1948), Người đã giành cho tờ báo một bức thư in ở trang đầu. Quan tâm đến phong trào và xây dựng các tổ chức của phụ nữ, Người luôn nhắc nhở: lập ra các Hội Phụ nữ không phải để cổ động chống đàn ông mà để bênh vực quyền lợi chung của các tầng lớp nhân dân, trước hết là công nông và quyền lợi riêng của phụ nữ.
       Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấy rõ phụ nữ là một lực lượng quan trọng của sự phát triển xã hội, đồng thời rất tha thiết tạo cho phụ nữ Việt Nam có một cuộc sống tốt đẹp, tự do, bình đẳng và phát triển dài lâu. Vì vậy, Người rất quan tâm giải phóng phụ nữ ở cả hai lĩnh vực: hoạt động văn hóa xã hội và trong hôn nhân gia đình. Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý đến cục diện mới của cuộc đấu tranh, tìm mọi biện pháp để khi chính quyền đã vào tay nhân dân thì phụ nữ phải được hưởng quyền bình đẳng và là chủ nhân thực sự của đất nước. Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tháng (10-1946) do Người chỉ đạo biên soạn đã ghi nhận quyền bình đẳng nam và nữ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) và Người trịnh trọng tuyên bố rằng: “Dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do công dân. Hiến pháp đã tuyên bố với thế giới phụ nữ Việt Nam đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền tự do công dân” [3]. Như vậy, quyền nam nữ bình đẳng được công bố và thừa nhận ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Song việc thi hành luật pháp không phải dễ dàng, thuận lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt nhận ra vấn đề: con đường đấu tranh để thực hiện quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ còn khó khăn và lâu dài. Trong bài Nam nữ bình quyền, ngày 8-3-1952, Người viết: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát, thế là bình đẳng bình quyền. Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng to và khó. Vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy ngàn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội” [4]. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật hôn nhân và gia đình ngày 10-10-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [5]. Và Người chỉ ra: “Luật lấy vợ, lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phân nửa xã hội. Giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông… Chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh” [6]. Xóa bỏ tư tưởng trọng nam khinh nữ là giải phóng cho phụ nữ khỏi tư tưởng tự ti, rụt rè, tiêu cực, không tin ở khả năng của mình, không dám đấu tranh cho quyền lợi của mình. Chính phụ nữ phải vươn lên tự giải phóng, đứng lên đấu tranh cho quyền lợi của mình.
       Hiến pháp năm 1959 do Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo trước Quốc hội khóa I, Kỳ họp thứ 11 (ngày 18-12-1959) đã kế thừa và phát triển tư tưởng nam nữ bình quyền của Hiến pháp 1946, và cụ thể hóa quyền bình đẳng nam nữ như sau:“Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình… Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” (Điều 24).
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi công tác đào tạo, bồi dưỡng và cất nhắc cán bộ nữ là một phần quan trọng trong cách mạng giải phóng phụ nữ. Người nhìn thấy những ưu điểm cơ bản của phụ nữ Việt Nam song cũng hiểu rõ những nhược điểm thiếu sót của họ do ảnh hưởng của xã hội cũ. Bởi vậy, Người chú trọng bồi dưỡng cho phụ nữ Việt Nam một cách nhìn mới để giúp họ ý thức được khả năng và trách nhiệm của mình trong xã hội mới cả về quyền lợi và nghĩa vụ. Trong bài nói tại Hội nghị Phụ nữ lao động tiên tiến và chiến sĩ thi đua toàn thành phố Hà Nội lần thứ 2, ngày 8-3-1960, Người nói: “Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính, phụ nữ ta có rất nhiều tiến bộ, nhưng Đảng, Chính phủ và Bác còn mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa… Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải: Gắng học tập chính trị, học tập văn hoá, kỹ thuật” [7]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn bó chặt chẽ nghĩa vụ và quyền lợi của người phụ nữ, đòi hỏi không chỉ khai thác lực lượng lao động nữ mà còn phải bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn, nâng cao tình độ kiến thức của họ, cất nhắc đề bạt họ vào các chức vụ quản lí kinh tế, xã hội. Điều đó góp phần thực sự đưa phụ nữ bình quyền với nam giới. Trong bài nói tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện ngày 18-1-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán một số địa phương, cơ quan và cá nhân mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ. Người nói: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến hẹp hòi. Như vậy là rất sai… Các đồng chí phải thật sự sửa chữa bệnh thành kiến hẹp hòi đối với phụ nữ” [8]. Trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một định hướng chiến lược lâu dài về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình bình đẳng thật sự cho phụ nữ” [9].
       Cách ứng xử tinh tế, cũng như tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ đã góp phần động viên, khuyến khích tinh thần đấu tranh tự vươn lên của chị em phụ nữ. Trải qua 94 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, phụ nữ Việt Nam ngày càng trở nên tự tin, năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, nhạy bén với cái mới của thời đại. Vị thế của người phụ nữ ngày càng được nâng cao trong gia đình và ngoài xã hội. Phụ nữ Việt Nam đã có mặt trên tất cả các lĩnh vực công tác của đời sống xã hội. Việt Nam ngày càng có nhiều chính trị gia; nhà lãnh đạo, quản lý; nhà khoa học và doanh nhân thành đạt là phụ nữ; tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
Tuy địa vị của phụ nữ Việt Nam đã được nâng lên trong xã hội, nhưng tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn đang là một thách thức lớn; định kiến đối với phụ nữ vẫn còn khá nặng nề, nạn bạo hành đối với phụ nữ trong cuộc sống gia đình còn phổ biến… Song phụ nữ Việt Nam nhất định sẽ có đủ năng lực và trí tuệ để tiếp tục tự giải phóng, tiếp tục đi tiếp con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã chỉ ra, xứng đáng với 8 chữ vàng mà Người đã tin yêu dành tặng cho phụ nữ Việt Nam: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.